CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - TÔNG QUAN VỀ BẢN CÁT CÁT, LÝ LAO. Trên thế giới, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa của riêng mình bởi bên. cạnh những nhân tổ khác, dân tộc ra đời cùng với sự hình thành nền tảng văn hóa chung của cộng đồng; dân tộc phát triển nhờ có sự thúc đây của những sáng tạo văn hóa tiếp theo; dân tộc hướng tới tương lai dưới ảnh hưởng của ngọn đuốc văn hóa soi đường. Nền văn hóa của dân tộc này khác với nền văn hóa của dân tộc kia là ở những nét riêng độc đáo của nó, tạo thành bản sắc của chính nó.
Bản sắc là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một vật (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả người, động thực vật, đồ vật và những khái niệm biểu tượng). Sắc là cái thê hiện ra bên ngoài của vật đó. Vì thế khi nói đến bản sắc văn hóa dân tộc tức là nói đến những giá trị gốc, căn bản, cót lõi, những giá trị hạt nhân của từng dân tộc được thể hiện qua đời sống hiện tại của từng tộc người đó trên mọi kĩnh vực như văn hóa — kinh tế - xã hội (như trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, sân khẩu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, giáo dục, quân sự, ngoại giao, kinh tế, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hàng ngày.) 'Vậy bản sắc dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc là gì? Nội dung và ý nghĩa của nó ra sao? Đây là một vấn đẻ rất quan trọng đã và đang được nhiều nhà văn hóa học trong và ngoài nước nghiên cứu và bàn luận từ nhiễu thập kỉ qua. Tác giả Hoàng Trinh trong công trình nghiên cứu của mình về “Vấn đề văn hóa và phát triển”, ông chủ yếu sử dụng thuật ngữ bản sắc dân tộc của văn hóa.
Theo ông “bản sắc dân tộc của văn hóa hình thành và phát triển trên cơ sở tỉnh thần và phát triển trên cơ sở tỉnh than tự lực, tự cường, thường xuyên thấy mọi sự nô dịch và áp đặt của ngoại lai”. Ông đưa ra định nghĩa “Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc biểu hiện ở một dân tộc trong lĩnh vực tồn tại và phát triển, giữ cho dân tộc. đó giữ được tính duy nhát, tính thống nhất, tính nhất quán của bản thân mình trong quá trình phát triển. Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực.
đời sống: ý thức thuộc về một dân tộc, cách tư duy, cách sống, cách dựng, nước, giữ nước, cách sáng tạo trong văn hóa, khoa học, nghệ thuật. Bản sắc dân tộc phát triển theo những điều kiện xã hội — kinh tế , thé ché và chính trị, nó cũng phát triển theo quá trình xâm nhập văn hóa, trước hết là sự tiếp. nhận tích cực văn hóa từ bên ngoài vào.” Khác với cách diễn đạt trên đây của tác giả Hoàng Trinh, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa — Thông tin Nguyễn Khoa Điềm cùng với cộng sự của mình thì cho rằng: “có lẽ nên sử dụng thuật ngữ bản sắc văn hóa khi nói về văn hóa của một dân tộc, một đất nước”. Các tác giả này định nghĩa như sau “bản sắc văn hóa đân tộc phải là sự tổng hòa các khuynh hướng cơ bản trong, sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong hệ thống thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng.
trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó. Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng (văn hóa dân tộc) với cái chung (văn hóa khu vực, văn hóa nhân loại). Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa sẽ cổng hiển những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung, đồng thời tiếp nhận có chọn lọc các giá trị văn hóa khác, nhào nặn thành giá trị của chính mình' Từ góc nhìn đa dạng văn hóa và đối thoại với các nền văn hóa thì tác giả Phạm Xuân Nam đã đưa ra khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc như sau: “Bản sắc văn hóa của một dân tộc được xem là tông thẻ những nét đặc sắc cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện của sản phẩm, các giá trị văn hóa vat thể và phi vật thể mà cộng đồng dân tộc ấy đã sáng tạo ra trong điều kiện về tự nhiên, xã hội và lịch sử của mình. Những sáng tạo này đóng vai trò là hệ quy chiếu và bộ lọc cho kiểu kết hợp những giá trị văn hóa nội sinh và những, giá trị văn hóa ngoại sinh thông qua tiếp xúc, giao lưu, đối thoại với với các nền văn hóa khác trong khu vực và thế giới.” Bản sắc văn hóa dân tộc là nét riêng biệt trong hình thái tồn tại của một cộng đồng, hay cộng đồng ấy gắn kết với một hệ thống những giá trị đặc thù riêng.
Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân tộc, yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc là “quốc hồn”, là sức sống nội sinh, là “căn cước” của một dân tộc đề phân biệt dân tộc này. với dân tộc khác, từ đó có thể biểu hiện một cách trọn ven nhất sự hiện diện của dân tộc mình trong quá trinh giao lưu và hội nhập. Để mắt bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập là đánh mắt những giá trị văn hóa đặc sắc riêng của nền văn hóa trên hành tỉnh này.
Bản sắc văn hóa dân tộc có tính ổn định riêng tính theo thước đo thời gian lich sử. Nó không phải là cái gì “sớm nở chiều tàn” đồng thời cũng không phải là cái gì “bắt thành bắt biến”. Nó luôn luôn vận động, thay đổi, dù khi nhanh khi chậm, lúc hưng lúc thịnh, lúc suy tàn gắn với quá trình phát triển nội tại của mỗi dân tộc và giao lưu quốc tế. “Trong quá trình vận động và thay đổi, nền văn hóa của không ít cộng, đồng dân tộc đã bị đồng hóa do nhiều nguyên nhân.
Song cũng có nhiều dân tộc khác phải đấu tranh với những thử thách nghiệt ngã mà vẫn không bị mắt gốc và biến mất. Mặc dù không tránh khỏi những yếu tố ngoại lai, nhưng, những yếu tố cơ bản trong “bộ gien văn hóa” dân tộc vẫn được kế thừa và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là kết quả của vận động biện chứng giữa dân tộc và quốc tế trong quá trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc. Như vậy giữa cái riêng của dân tộc và cái chung của thế giới có mối quan hệ khăng khít với nhau.
Bản sắc dân tộc của văn hóa là cái giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác. Bản sắc văn hóa của dân tộc biêu hiện tập trung trong truyền thống văn hóa của dân tộc. “Truyền thống văn hóa là các giá trị văn hóa do lịch sử đề lại, được các thế hệ sau kế thừa và khai thác, phát huy trong thời đại của họ, tạo nên sự tiếp nối lịch sử văn hóa. Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những.
tỉnh hoa của công đồng 54 dân tộc được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, chí tự lực, tự cường, ý thức cộng đồng, gắn kết cộng đồng, cá nhân, gia đình và xã hội, sự nhân ái khoan dung, trọng nghĩa trọng tình, cần cù và sáng tạo trong. lao động, sự tỉnh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống. Bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở để liên kết xã hội và liên kết thế hệ, tạo nên sức mạng tỉnh thần dân tộc.
Du lịch và du lịch văn hóa. Việt Nam là nước được ghi nhận có thị trường du lịch tốt nhất khu. vực, trong đó có du lịch văn hóa. “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người có động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đải, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”.
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích, di chỉ. Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu và bảo tổn. Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tổn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa, kinh tế, xã hội.” “Theo luật du lịch thì: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào. bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.” Ví dụ như ở Hà Nội, tham quan du lịch Hồ Tây kết hợp với tham quan đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, phủ Tây Hồ.
đầy đủ tam giáo và tín ngưỡng dân gian. Đi du lịch Lào Cai vừa là lên Sapa, vừa tham. quan đền Thánh Trần ở sát biên giới, tham quan chợ Cốc Lếu. Bởi vậy, theo.
tương đối luận văn hóa mọi ranh giới phân loại đều mong manh. Lấy văn hóa làm điểm tựa, du lịch văn hóa mang sứ mệnh tôn vinh và bảo vệ các giá trị văn hóa tốt đẹp của con người. Lấy du lịch làm cầu nối, văn hóa được làm giàu thêm thông qua sự tiếp xúc, tiếp biến và giao lưu, lan tỏa, tiếp nhận và hội tụ tỉnh hoa văn hóa các dân tộc. Du lịch văn hóa không, chỉ đem lại lợi ích về kinh tế mà còn góp phần giáo dục tình yêu tổ quố: thúc đây tích cực sự phát triển xã hội.
'Con người sáng tạo ra văn hóa vì vậy mọi sản phẩm văn hóa đều thuộc. về con người. Sản phẩm văn hóa được sinh ra trước sản phẩm du lịch, một sản phẩm du lịch trước hết phải là một sản phẩm văn hóa. Nó sẽ trở thành sản phẩm du lịch khi được sử dụng vào hoạt động du lịch kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách.
Tắt cả các sản phẩm du lich là sản phẩm văn hóa nhưng không phải mọi sản phẩm văn hóa đều là sản phẩm du lịch. Nhiều sản phẩm văn hóa không được hay không thể khai thác kinh doanh du lịch được.