Luận văn Thạc sĩ Hóa học: văn hóa học âm nhạc trong nghi lễ then cầu an

Nghiên cứu văn hóa học âm nhạc trong nghi lễ cầu an giải hạn của người Tày tại bản Pác Sào, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Văn hóa - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2005

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Văn hóa Âm nhạc trong Nghi lễ Then

Nghi lễ then là một trong những biểu hiện văn hóa độc đáo của các dân tộc thi少số ở Việt Nam, đặc biệt là dân tộc Tày và Thái. Âm nhạc trong then không chỉ là yếu tố giải trí mà còn là phương tiện truyền tải các giá trị tâm linh, cộng đồng và lịch sử. Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc khám phá mối quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ then, từ đó giải thích cách âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của bảo tồn văn hóa âm nhạc truyền thống trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Khái niệm nghi lễ then và vai trò văn hóa

Nghi lễ then là buổi lễ cộng đồng kéo dài nhiều ngày, được tổ chức để cầu mưa, cầu lạnh hoặc thờ cúng tổ tiên. Âm nhạc then là thành phần không thể thiếu, tạo nên nét độc đáo trong nghi lễ. Các bài hát then mang nội dung sâu sắc về đời sống, tình yêu, lao động của cộng đồng. Qua âm nhạc, các giá trị văn hóa được truyền lại qua các thế hệ.

1.2. Ý nghĩa nghiên cứu luận văn thạc sĩ

Luận văn này nhằm phân tích sâu các khía cạnh của âm nhạc then, bao gồm cấu trúc âm thanh, lời ca, và bối cảnh biểu diễn. Nghiên cứu có giá trị học thuật trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc. Qua đó, đề xuất các chiến lược bảo vệ và phát triển âm nhạc then trong thời kỳ toàn cầu hóa.

II. Vấn đề Bảo tồn Âm nhạc Truyền thống Then

Hiện nay, âm nhạc then đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển công nghệ và toàn cầu hóa làm cho giới trẻ ít quan tâm đến âm nhạc truyền thống. Nhiều bài hát then cổ kính đang dần bị lãng quên vì thiếu sự truyền dạy hệ thống. Ngoài ra, số lượng ca sĩ then chuyên nghiệp ngày càng giảm, gây ra hiểm nguy cho sự tồn tại lâu dài của di sản văn hóa này. Vấn đề bảo tồn và phát triển âm nhạc then trở thành ưu tiên cấp thiết trong các chính sách văn hóa.

2.1. Thách thức trong quá trình lưu giữ âm nhạc then

Kỹ thuật ghi âm truyền thống không đủ để bảo vệ toàn bộ nội dung nhạc then. Nhiều bản nhạc cổ kính chỉ tồn tại dưới dạng ký ức của những người lớn tuổi. Thiếu tài liệu viết về lý thuyết âm nhạc then khiến việc truyền dạy hệ thống trở nên khó khăn. Công nghệ hiện đại cần được ứng dụng hiệu quả để lưu trữ và số hóa các bản nhạc này.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường xã hội đến sự phát triển

Đô thị hóamigration đã thay đổi cấu trúc cộng đồng nơi nghi lễ then được thực hành. Giới trẻ ít có cơ hội tiếp xúc với âm nhạc then trong bối cảnh tự nhiên. Giáo dục hiện đại chưa tích hợp đủ về âm nhạc dân tộc. Cần có chính sách khuyến khíchcơ chế hỗ trợ để giúp thế hệ mới quan tâm đến di sản văn hóa này.

III. Giải pháp Phát triển và Bảo vệ Âm nhạc Then

Để bảo tồn âm nhạc then, cần áp dụng các giải pháp toàn diện. Số hóa các bản ghi âm sẽ giúp lưu trữ lâu dàichia sẻ rộng rãi. Xây dựng cơ sở dữ liệu về âm nhạc then hỗ trợ nghiên cứu học thuật. Phát triển chương trình giáo dục trong trường học để giới thiệu âm nhạc then cho học sinh. Hỗ trợ ca sĩ then qua các quỹ cộng đồngchương trình tài trợ. Tổ chức những buổi biểu diễn công cộng để nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Công nghệ số hóa và lưu trữ âm nhạc then

Ứng dụng công nghệ ghi âm hiện đại để tạo bản sao chất lượng cao của các bài then cổ kính. Xây dựng kho lưu trữ kỹ thuật sốgiao diện thân thiện người dùng, giúp công chúng dễ dàng truy cập. Hợp tác với các tổ chức quốc tế để áp dụng các chuẩn mực toàn cầu trong lưu trữ di sản. Bảo đảm an toàn dữ liệuquyền sở hữu trí tuệ cho ca sĩ then.

3.2. Chương trình giáo dục và truyền thừa

Tích hợp âm nhạc then vào chương trình họccác cấp độ giáo dục. Tổ chức các lớp học thực hành dạy kỹ năng ca hát then cho thanh niên quan tâm. Mời các ca sĩ then có kinh nghiệm làm giáo viên hoặc người hướng dẫn. Hỗ trợ các sinh viên thực hiện nghiên cứu khoa học về âm nhạc then.

IV. Kết luận Tương lai của Âm nhạc Nghi lễ Then

Âm nhạc thenkho tàng văn hóa quý báu của các dân tộc Việt Nam, cần được bảo vệ và phát triển bền vững. Luận văn thạc sĩ này chứng minh rằng âm nhạc then không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có tiềm năng phát triển trong bối cảnh hiện đại. Thông qua kết hợp giữa bảo tồn truyền thốngứng dụng công nghệ hiện đại, có thể tạo ra một tương lai tươi sáng cho di sản âm nhạc này. Cộng đồng, nhà nước và các nhà nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ để đạt được mục tiêu chungbảo vệ và phát triển âm nhạc then.

4.1. Kết quả chính của nghiên cứu

Luận văn đã chứng minh tầm quan trọng của âm nhạc trong nghi lễ then. Phân tích chi tiết về cấu trúc, nội dung và chức năng của âm nhạc then giúp làm sáng tỏ vai trò của nó trong cộng đồng. Những phát hiện này góp phần tạo ra sự hiểu biết sâu sắc hơn về di sản văn hóa phi vật thể. Kết quả có thể được áp dụng trong các chính sách bảo vệ văn hóacấp quốc gia và địa phương.

4.2. Đề xuất hướng phát triển tương lai

Tiếp tục nghiên cứu sâu về các khía cạnh khác của then, chẳng hạn như khía cạnh tâm linh hay xã hội. Phát triển các dự án thực tiễn để áp dụng các giải pháp được đề xuất. Mở rộng hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm với các nước khác trong bảo vệ di sản âm nhạc. Theo dõi và đánh giá hiệu quả của các chương trình bảo tồn.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I KHÁI QUÁT VỀ THEN VÀ ÂM NHẠC TRONG THEN CUA NGUOI TAY 1. KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở VIỆT NAM 1. Vài nét về lịch sử tộc người Tày Người Tày ở khắp các tính thượng du và trung du Bắc Bộ, dọc biên giới Việt Trung, tụ cư trong các thung lũng, cánh đóng thuộc vùng thượng lưu các con sông Kỳ Cùng, Bảng Giang, Sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam, Sông Lô, Sông Chảy thuộc các tỉnh: Bác Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyến Quang, Hà Giang. Từ thời đồ đá mới.

người Tày đã có mặt ở Đông Nam Á cùng với người Khơ Me cổ và Inđônêxia trong thành phần của khối Bách Việt. Di tích khảo cổ học cho thấy, cách đây 5000 năm trên mảnh đất quê hương của người Tày đã có con người thời đại đố đá mới. Theo tư liệu sử học và văn học dân gian, những bộ lạc được gọi là Âu Việt của người Tày cổ nằm trone nước Văn Lang do các Vua Hùng xây dựng sống ở miền trung du và miền núi Việt Bắc ngày nay. Là dân cư đã sớm biết sử dụng đồ sát, làm cho kinh tế và văn hoá ở giai đoạn lịch sử này ngày càng phát triển cao.

Truyền thuyết '“Pú Lương Quân. Cau Chia Cheng Vùa”, nói về sự có mặt của người Tày từ thời kỳ xa xưa ở Việt Nam và những công tích của họ trong xây dựng đất nước vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Xưa kia người Tày cư trú trong một địa vực rộng lớn hơn ngày nay. Trong quá trình lịch sử, người Tày ở vùng trung du đã hoà hợp với người Việt và người Mường thành những người Việt hiện đại, còn bộ phận những người Tày cổ sống ở miễn núi là tổ tiên người Tày hiện nay.

Trong tiến trình lịch sử của đất nước, người Tày đã góp nhấn làm nên những chiến công lịch sử vẻ vang chống giậc ngoại xâm của đân tộc: li Tir thé ky thir [11 trude cong nguyén, cdc bO lac Au Viet liên mình với Lạc Việt, thuộc khối Việt- Mường thành lập nước Âu Lạc do Thục Phán đứng đấu, sau xưng là An Dương Vương đã đánh bại mấy chục vạn quân xâm lược nhà Tần hung hãn nhất Châu Á lúc bấy giờ. Vào những năm 4 đầu công nguyên, trong công cuộc khởi nghĩa chống ách thống trị của quân Hán xâm lược do hai nữ anh hùng Trưng Trắc, Trưng Nhị lãnh đạo, tổ tiên của người Tày đã tham gia tích cực mà ngày nay nhân đân ở Việt Bac van con luu truyền nhiều truyền thuyết vẻ cha ông mình đã tham gia cuộc khởi nghĩa này. Dưới triều Trấn thế kỷ XIH, trong ba lấn quân Mông Cổ xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh miền núi trong đó có Lương UƯờt người Tày ở Cao Bảng đã giúp triều đình tiêu diệt sinh lực địch. Sau khi nhà Minh dat ách đô hộ trên đất nước ta, ở Việt Bắc mùa thu năm 1407 nhân dân Tày ở biến giới đã vũ trang kháng chiến, giết chết đô đốc Cao Sĩ Văn của giặc.

Một số nét Đặc trưng trong văn hoá của người Tày Văn hoá ẩm thực Qua khảo sát ở huyện Bình Gia (Lạng Sơn) cho thấy người Tày và người Nùng là cư dan sống trong cùng một hệ sinh thái, có mối quan hệ lâu đời về nguồn gốc, văn hoá và tâm lý tộc người. trong một số mật của đời sống văn hoá khó phân biệt được rạch ròi sự khác nhau giữa dân tộc Tày và Nùng. Lương thực, thực phẩm chính của người Tày chủ yếu đều là sản phẩm thu được từ hoạt động sản xuất như: cấy trồng, chân nuôi thu lượm được trong tự nhiên. Người Tay ăn hai bữa chính, bữa trưa (kim ngài) và bữa tối (kin piáu)., gia đình nào khá giá hơn thì thêm bữa phụ nữa (kín lèng).

Khi ân mọi thành viên trong gia đình ngồi quanh mâm, con dâu không ngối chung mâm với bố chống, con rể không ngồi chung mâm với mẹ vợ. Khi có khách, chủ gia đình ngồi an cơm riêng với khách. Các món ăn của người Tày chế hiến rất đa dạng, ngoài cơm để ăn hàng ngày bảng gao tẻ ra, còn có gạo nếp được nấu thành nhiều loại xôi, điển hình 12 nhất là các loại xôi được nhuộm nhiều mắu từ lá cẩm, trám đen. món đặc trưng của người Tày là cơm lam (khẩu lam).

Gạo tẻ và gạo nếp còn được chế biến thành nhiều loại bánh như: Bánh chưng, bánh dày, bánh vắt vai, bánh lăng. Các món an được chế biến từ rau, quả cũng rất phong phú, vừa phù hợp với nhu cầu sứ dụng khác nhau, vừa phù hợp với khí hậu, thời tiết và kha nang cung cấp đây đủ năng lượng cho con người. Ngoài các món ăn người Tày còn có những đổ uống và thuốc hút đặc trưng. Rượu là đồ uống phổ biến, nổi tiếng là rượu được nấu từ các loại gạo nếp và nước suối cùng với men lá đặc trưng của người Tày.

Tục uống rượu thể hiện sự hiếu khách đó là uống chéo chén, hai tay đan xen nhau thể hiện tình đoàn kết giữa chủ nhà và khách. Bình Gia va Bac Son 1a ving trồng cây thuốc lá nối tiếng thơm ngon. Người dân nơi đây có thể quấn thuốc lá bằng tay. Bên cạnh đó thuốc lào cũng được sử dụng nhiều.

Van hoá ẩm thực của người Tày thể hiện sự chế biến cầu kỳ, tỉnh xảo, điểu đó đã khang định sự phát triển vẻ nhận thức của người Tay trong mdi trường sinh thái cao hơn các tộc người khác cùng cư trú. Trang phục: Trang phục của người Tày được cắt may từ vải bông tự dệt, nhuộm chàm. Trang phục của nam giới có: áo, quấn, mũ nồi. Nếu mặc trong các nghỉ lẻ thì nam giới mặc áo dài, đầu quấn khăn xếp, đặc biệt, để thể hiện sự giàu sang thì người đàn ông trước kia thường bịt râng bảng vàng, hoặc hạc.

Trang phục của phụ nữ có áo cánh ngăn màu trắng mặc bên trong, áo dài năm thân mặc bén ngoài, khi mặc áo dài họ thường mặc theo từng cap, ta áo phủ gắn hết gấu quần. ống tay áo bó chặt đắn về phía hàn tay, quần của phụ nữ Tày dài chấm gói. Phụ nữ Tày tôn thêm vẻ đẹp của thân hình bởi chiếc thất lưng, thát lưng cùng màu với áo có độ dài bảng 10 vuông vải (mỗi vuông bảng 40cm) được dệt bằng sợi bông hay tơ tăm nhuộm chàm và được buộc ra bén ngoài áo dài. Phụ nữ Tày ra ngoài trời thường đội nón đan bằng giang, bằng 13 nứa lợp lá.

Phụ nữ Tày chải tóc vấn khăn, chít khan như người Kinh. Đồ trang sức chủ yếu bằng bạc như: vòng cổ. vòng tay, dây xà tích và chiếc túi thổ cẩm đco bên hông. Có thể nói, trang phục của người Tày, đạc biệt của phụ nữ Tày dù ở các vùng miền, địa phương khác nhau đều thống nhất cùng kiểu loại, tỉnh tế trong cách chọn mầu, chọn vải.

Áo, quần, khăn đều đồng mầu, ít trang trí thêu thùa, mà chỉ trang trí làm nổi bật bảng vòng cổ, vòng tay, xà tích làm cho trang phục của phụ nữ Tày đạt tới độ thanh lịch và kín đáo. thể hiện tính cách mềm mại và duyên dáng, cần cù chịu khó rất riêng của phụ nữ Tày. Ngoài ra người Tày còn có những trang phục riêng cho trẻ em như: Ðu, mũ, túi. đều được thêu thổ cẩm với những gam mầu, họa tiết hoa vân riêng độc đáo.

Một số trang phục riêng của các thầy cúng (Mo,Then): Tang phục, lễ phục. đều có đặc điểm riêng phù hợp với công việc nghỉ lẽ. Nhà ở: Nhà sàn là kiểu nhà truyền thống và phổ biến của người Tày. Có hai kiểu nhà sàn, một kiểu nhà bốn mái, (tứ thiết) và kiểu nhà hai mái.

Việc xây dung một ngôi nhà sàn của người Tày đòi hỏi tốn rất nhiều công sức và thời gian chuẩn bị. Chọn đất tìm hướng nhà là rất quan trọng đối với người Tày, theo họ thì đất và hướng nhà có ảnh hưởng rất lớn đến công việc làm ăn sinh sống của cả đời người. Nguyên vật liệu chính để làm nhà sàn chú yếu là gỗ, tre, nứa, lá và ngói, thời gian chuẩn bị ít nhất một năm có khi tới vài năm. Ngôi nhà sàn là một ngôi nhà tổng hợp.

được người Tày bố trí sử dụng hợp lý và tối đa để phục vụ đời sống sinh hoạt của con người. Nhà sàn thường cao từ 7 đến §m, chiều sâu từ Š đến 9 hàng cột. Trong nhà sàn, gác có thể làm ở tất cả các gian và thường là nơi cất trữ các sản vật nông nghiệp. Nhà sàn là nơi tập trung mọi sinh hoạt của gia đình, ẩm sàn là nơi để dụng cụ sản xuất như: cuốc, xẻng, cẩy, bừa, cối xay.

Có nhiều nơi còn để nuôi nhốt gia súc, gia cầm. Sân phơi thường được làm bằng gỗ ở trước ngôi nhà, vừa để làm nơi chơi của trẻ con, vừa là nơi phơi thóc, lúa, quần áo. Ngôi nhà sàn thể hiện rõ phong Lục tập quán. nề nếp, trật tự trong gia đình người Tày.

Bổ cục của ngôi nhà 14 thường được chia theo chiều ngang hay chiếu dọc (tính từ cửa chính). nửa trên (phía trước hàn thờ) gắn cửa chính là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của nam giới, đồng thời là nơi tiếp khách. nửa dưới (phía sau bàn thờ) dành cho phụ nữ. Trong nhà sàn có hai bếp, bếp chính dùng để nấu nướng và ngồi sưởi ấm mỗi khi mùa đông về, bếp phụ xây bằng gạch mộc trát đất, dùng để nấu rượu, nấu cám lợn, một số gian dùng để đựng đổ dùng gia đình như: Chạn bát, xoong, nồi, thúng, mẹt, chum nước.

Ố những nơi có nguồn nước thuận tiên thì người dân dùng cây vấu làm máng nước dẫn từ khe, từ suối về tận nhà. Tập quán chung của người Tày là bố trí buồng ngủ của phụ nữ thco thứ tự: buống chị dâu cá ở gian đầu, rồi tiếp đến là thứ hai, ba. Con gái chưa chồng bao giờ cũng ở gian cuối, giữa các buồng được ngân cách với nhau bảng ván hoạc phên nứa. Tận quán còn quy định, bố chồng không được vào buồng con đâu, em đâu.

Nếu có khách là đàn bà thì con dâu tiếp khách ở bén bếp lửa hoặc trong buống của mình. không được tiếp khách là nữ ở trên nhà, trước bàn thờ tổ tiền. Cho đến bây giờ, nhiều nơi vẫn còn giữ tập quán con dâu, em dau khong ngồi ãn cùng mâm với bố chồng, anh chồng: Con rể không được ngối với me vợ, bữa cơm trong gia đình phải duoc don thành hai mâm. Đó là nét văn hoá độc đáo và riêng biệt của người chủ ngôi nhà sàn.

Quan hệ gia đình và dòng họ: Cho tới Cách mang tháng Tám, ở vùng người Tày không còn kiểu gia đình lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ