Mở đầu” của tác phẩm [20, tr. 458 - 483] và phần “Tác dụng của lao động trong việc biến vƣợn thành ngƣời” [20, tr. Vào thời đại của mình, Ph. Ăngghen đƣợc biết hoặc chứng kiến hàng loạt các phát minh trong khoa học tự nhiên tác động đến đời sống xã hội và tạo nên nhiều biển đổi trong ý thức con ngƣời.
Ba phát minh vĩ đại – định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lƣợng; thuyết tế bào; thuyết tiến hóa của Đácuyn – đƣợc Ph. Ăngghen phân tích trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là “Biện chứng của tự nhiên” và “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. Những thành tựu của khoa học tự nhiên đã chứng minh tính chất biện chứng của quá trình diễn ra trong tự nhiên, và nó cũng chứng minh cho khẳng định dƣới đây của Ph. Ăngghen là đúng đắn.
Ông cho rằng: con ngƣời là kết quả của sự tiến hóa lâu dài trong nhiều triệu năm của vật chất, là “một phần cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra đƣợc” [20, tr. QUAN ĐIỂM CỦA PH. ĂNGGHEN VỀ CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG TÁC PHẨM 1. Quan điểm về con ngƣời Có thể nói, vấn đề con ngƣời là một trong những vấn đề trung tâm và quan trọng nhất từ trƣớc đến nay.
Bởi vậy, việc tìm kiếm câu trả lời cho vấn Luan van 11 đề con ngƣời là gì, vai trò của con ngƣời trong thế giới ra sao… đã diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử tƣ tƣởng nhân loại từ cổ đến kim mà trƣớc hết là trong lịch sử tƣ tƣởng triết học. * Trong triết học trước Mác Quan điểm của triết học Mác nói chung và của Ph. Ăngghen nói riêng là sự kế thừa và phát triển các quan điểm duy vật trƣớc Mác, nhất là chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII. Do đó để hiểu đƣợc một cách sâu sắc quan điểm của Ph.
Ăngghen, trƣớc hết chúng ta cần điểm qua những thành tựu và hạn chế của quan điểm duy vật trƣớc Mác về con ngƣời. Trong lịch sử triết học trƣớc Mác đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề con ngƣời: Chủ nghĩa duy tâm tôn giáo quan niệm con ngƣời là do Thƣợng đế, Chúa trời và linh hồn tối cao sinh ra, giá trị cao nhất của con ngƣời là “linh hồn vĩnh cửu”; những nhu cầu vật chất, sinh vật chỉ là tạm thời, tầm thƣờng, nhỏ nhoi của con ngƣời. Khác với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, chủ nghĩa duy vật trƣớc Mác lại đề cao vai trò của con ngƣời trong thế giới, đặc biệt chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVII và của Phoiơbắc. Các nhà duy vật thế kỷ XVIII chứng minh rằng con ngƣời là sản phẩm của tự nhiên, là thể thống nhất giữa cơ thể và ý thức.
Họ đứng trên lập trƣờng vô thần bác bỏ quan niệm về linh hồn bất tử, về sự tách rời giữa ý thức và cơ thể. Tuy nhiên, quan điểm của họ về con ngƣời không thể thoát khỏi những hạn chế bởi thế giới quan máy móc của họ. Họ chƣa thấy vai trò to lớn của ý thức con ngƣời trong việc nhận thức và cải tạo tự nhiên. Hônbach, trong “Hệ thống của tự nhiên” đã viết: Luan van 12 “Con ngƣời là tác phẩm của tự nhiên, anh ta tồn tại trong tự nhiên và phục tùng quy luật của tự nhiên, không thể thoát khỏi tự nhiên, thậm chí về mặt tƣ tƣởng cũng không thể vƣợt khỏi tự nhiên đƣợc… Sự phân biệt đã từng có giữa con ngƣời vật chất và con ngƣời tinh thần rõ ràng chỉ là sự lạm dụng thuật ngữ.
Con ngƣời hoàn toàn là vật chất; con ngƣời tinh thần không có gì hơn là cái tồn tại vật chất này. 10] Một khuyết điểm khác của chủ nghĩa duy vật trƣớc Mác là: các nhà triết học duy vật thế kỷ XVIII coi con ngƣời là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh và giáo dục, nhƣng không thấy thấy rằng chính con ngƣời đã tác động, cải tạo hoàn cảnh và giáo dục không phải là vạn năng. Mác viết: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con ngƣời là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con ngƣời đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi, - cái học thuyết ấy quên rằng chính những con ngƣời làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải đƣợc giáo dục. Phoiơ bắc (Ludwig Feuerbach) là một nhà triết học duy vật kiệt xuất, triết học của ông là một trong những tiền đề lý luận của C.
Ăngghen, nhƣng con ngƣời trong triết học Phoiơbắc vẫn là con người trừu tượng nhƣ Ph. Ăngghen nhận xét: “Về hình thức ông là một ngƣời hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con ngƣời làm xuất phát điểm; song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con ngƣời ấy sống, vì vậy con ngƣời mà ông nói, luôn luôn là con ngƣời trừu tƣợng vẫn chiếm cứ lĩnh vực triết học về tôn giáo. 420] Luan van 13 Phoiơbắc nói: “Con ngƣời là cái mà anh ta ăn vào. Thức ăn biến thành máu, máu biến thành tim và óc, chất liệu của tƣ tƣởng và thái độ.
Câu nói này cho thấy, rõ ràng Phoiơbắc tuyệt đối hóa yếu tố vật chất của con ngƣời, không thấy tính độc lập của ý thức. Mặc dù là một trong những nhà duy vật lớn nhất của triết học trƣớc Mác đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nhƣng Phoiơbắc không hiểu đƣợc hoạt động thực tiễn xã hội của con ngƣời, không hiểu đƣợc vai trò của thực tiễn sản xuất trong quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, coi thực tiễn là hoạt động “con buôn” tầm thƣờng, bẩn thỉu. Hạn chế lớn nhất trong triết học “nhân bản” của ông là ở chỗ hiểu không đúng về con ngƣời và bản chất con ngƣời [26]. trong Luận cƣơng về Phoiơbắc, C.
Mác viết: “Phoiơbắc muốn xem xét những khách thể cảm giác đƣợc, thực sự khác biệt với những khách thể của tƣ tƣởng, nhƣng ông không xem xét bản thân hoạt động của con ngƣời, nhƣ là hoạt động khách quan. Bởi thế, trong „Bản chất đạo Cơ Đốc‟, ông chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con ngƣời, còn thực tiễn thì chỉ đƣợc ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi. Vì vậy, ông không hiểu đƣợc ý nghĩa của hoạt động „cách mạng‟, của hoạt động „thực tiễn - phê phán‟". 16] Có thể nói, những quan niệm về con ngƣời trong triết học trƣớc Mác, mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và giải thích về con ngƣời từ nhiều khía cạnh khác nhau và đã đƣa ra nhiều cách hiểu khác nhau về con ngƣời và bản chất của con ngƣời nhƣng cuối cùng vẫn chƣa nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của con ngƣời trong sự phát triển của xã hội.
Do không nhận thấy tính năng động, sáng tạo của con ngƣời nên họ chỉ coi con ngƣời nhƣ một thực thể thụ Luan van 14 động trƣớc tác động của môi trƣờng xung quanh, không thấy đƣợc con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động có ý thức, sáng tạo ra lịch sử và sáng tạo ra chính bản thân mình nhờ lao động. Họ không đề ra đƣợc những phƣơng hƣớng, biện pháp nhằm giải phóng và phát triển con ngƣời. Những hạn chế chủ yếu trong nhận thức về con ngƣời và bản chất con ngƣời của các hệ thống triết học trƣớc Mác là do xuất phát từ lập trƣờng duy tâm hoặc từ phƣơng pháp siêu hình trong cách xem xét vấn đề con ngƣời. Tuy nhiên, mặc dù còn có những hạn chế nhất định nhƣng triết học trƣớc Mác đã cung cấp những “tƣ liệu” quý báu, tạo tiền đề và đặt ra những vấn đề khoa học cho triết học Mác - Lênin tiếp tục giải quyết một cách đúng đắn vấn đề bản chất con ngƣời và vai trò của con ngƣời trong đời sống hiện thực của xã hội.
* Con người triết học Mác – Ph. Ăngghen Vƣợt lên tất cả những hạn chế của lịch sử, triết học Mác với thế giới quan duy vật triệt để và phƣơng pháp biện chứng khoa học đã giải quyết một cách toàn diện và khoa học vấn đề con ngƣời. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin đánh dấu một bƣớc ngoặt có tính cách mạng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến con ngƣời và tƣơng lai của xã hội loài ngƣời. Triết học Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [21, tr.
Từ quan điểm này con ngƣời đƣợc coi nhƣ một thực thể thống nhất giữa mặt tự nhiên với mặt xã hội. Về mặt tự nhiên, con ngƣời trƣớc hết là một cơ thể sống, bộc lộ đầy đủ các quá trình sinh học, nhƣ các hiện tƣợng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện – hóa và các quá trình khác; và quá trình hình thành, phát triển của con ngƣơi trƣớc hết phục tùng các quy luật tự nhiên. Về mặt xã hội, con ngƣời là một Luan van 15 nhân cách văn hóa, bộc lộ các tố chất tâm lý, tính cách,… là chủ thể các quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, sinh hoạt… và quá trình hình thành, phát triển của con ngƣời không thể không tuân theo các quy luật xã hội. Triết học Mác không tách biệt hai mặt đó mà nhìn nhận con ngƣời tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của cả hai quá trình.
Quan điểm duy vật về lịch sử đã giúp Ph. Mác có sự tƣơng đồng hoàn toàn trong cách xem xét vấn đề con ngƣời. Ăngghen cho rằng, con ngƣời là kết quả của sự tiến hóa lâu dài trong hàng triệu năm của vật chất, là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra đƣợc” [23, tr. Nguồn gốc tự nhiên đó làm cho quan niệm đối lập giữa con ngƣời với tự nhiên hoàn toàn trở nên phi lý.
Con ngƣời, xét về mặt tiến hóa có nguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên – một sinh vật có tổ chức cao nhất của vật chất. Con ngƣời khác những loài vật không những về mặt sinh vật học mà còn về tính chất sinh hoạt xã hội do chính hoạt động của con ngƣời tạo ra. Con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩm của tự nhiên, còn con ngƣời phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình, con ngƣời chế tạo đƣợc những công cụ lao động để chế biến những nguyên liệu tự nhiên, cải tạo tự nhiên bằng những hoạt động thực tiễn, có kế hoạch và có mục đích.