Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; - Chương 2: Thực trạng quy pháp luật và thực tiễn tác động của việc theo dõi, xem xét, đánh giá của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; - Chương 3: Phương hướng và kiến nghị nâng cao vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. 15 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ 1. Những vấn đề lý luận chung 1. Khái niệm về vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ƣớc quốc tế Theo từ điển Tiếng Việt thì “vai trò” được hiểu “là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó”, còn “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được dùng để chỉ “một chức quan đảm nhận việc theo dõi, xem xét một công việc nào đó” [25].
Như vậy, “vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế” được hiểu là việc Quốc hội khi thực hiện chức năng giám sát, sử dụng hợp lý các phương tiện và công cụ theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng giám sát qua đó có những tác động đến hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân, góp phần thúc đẩy sự phát triển của điều ước quốc tế. Vai trò hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được thể hiện qua quá trình Quốc hội xem xét các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế do Quốc hội ban hành có được các 16 cơ quan nhà nước thực hiện đúng theo những quy định đã được Quốc hội ban hành? Và các cơ quan nhà nước, các cá nhân thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hay không? Trên cơ sở đó để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những chính sách, pháp luật quy định có liên quan không còn phù hợp với thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế hoặc không còn phù hợp với cuộc sống nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật về điều ước quốc tế thống nhất, hiện đại, toàn diện điều chỉnh các quan hệ quốc tế nhằm hợp tác và phát triển, bảo vệ tối đa lợi ích của nhân dân, đất nước, phát triển đất nước theo xu hướng của thời đại [9, tr 7]. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Vì vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội là chức năng giám sát tối cao đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước.
Theo từ điển Luật học của Viện pháp lý, Bộ Tư pháp thì: “Giám sát tối cao được hiểu là quyền của Quốc hội thực hiện giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Hiến pháp năm 1959 mới chỉ ghi nhận quyền của Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp (Điều 50). Quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 82 Hiến pháp năm 1980 và được tiếp tục ghi nhận tại Điều 83 Hiến pháp năm 1993. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp, hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.
Tại kỳ họp, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao trong hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thông qua 17 việc xem xét, phê chuẩn các báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hôi, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong phạm vi quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức thông qua việc xem xét các báo cáo, kiểm tra tình hình thực tế tại chỗ cũng như tiếp xúc với cử tri tại các địa phương” [4]. Theo từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh thì “giám sát là xem xét và đàm hạch” [1]. Về bản chất, giám sát là việc Quốc hội thu thập thông tin về hoạt động của các cơ quan Nhà nước hữu quan và xem xét, đánh giá thông tin thu thập được.
Việc xem xét, đánh giá này là cơ sở để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thể biểu dương hoặc phê phán các chủ thể có liên quan và trong những trường hợp nhất định, bày tỏ sự tín nhiệm của mình trong các chủ thể đó (những người mà Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn). Trên cơ sở của hoạt động giám sát sẽ giúp Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật kịp thời, chính xác nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền theo yêu cầu quản lý nhà nước và xã hội…qua đó vai trò của Quốc hội mới được thể hiện. Vai trò của Quốc hội không thể tách rời hoạt động giám sát và ngược lại Quốc hội thông qua hoạt động giám sát mới thể hiện được vai trò của mình trong việc phát triển chế định điều ước quốc tế. Mối quan hệ giữa vai trò của Quốc hội với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hôi là mối quan hệ hai chiều, khăng khít với nhau, có quan hệ qua lại và tác động hỗ trợ nhau.
18 Vì thế để thể làm rõ vai trò của Quốc hội trong hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, chúng ta phải giải quyết những vấn đề về lý luận về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội nói chung và đối với lĩnh vực ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế nói riêng. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội bao trùm lên toàn bộ hoạt động của nhà nước. Nói cách khác mọi hoạt động của nhà nước đều dưới sự giám sát của Quốc hội, ở đây không có “điểm chết”,“khoảng trống” hay “điểm cấm” của đời sống xã hội. Vì thế, hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân khi thực hiện nhiệm vụ đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế cũng không nằm ngoài thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội.
Khoản 1, Điều 2, Luật số 05/2003/QH11 ngày 26/6/2003 của Quốc hội quy định: “Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội”. Như vậy, nội dung của khái niệm hoạt động giám sát của Quốc hội theo quy định của pháp luật, bao gồm: Chủ thể giám sát, chủ thể bị giám sát, hậu quả của hoạt động giám sát, cơ sở của hoạt động giám sát, các phương thức để thực hiện hoạt động giám sát. Nói đến hoạt động giám sát là nói đến hoạt động của các cơ quan dân cử gồm có Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Thẩm quyền giám sát của Quốc hội rất rộng lớn, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có tính chất pháp lý cao nhất: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước” [16].
Điều này xuất phát từ bản chất nhà nước, nhà 19 nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân bầu ra Quốc hội trên nguyên tắc trực tiếp, phố thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Thông qua Quốc hội, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, các đại biểu Quốc hội với lá phiếu bầu của nhân dân họ sẽ thay mặt nhân dân thực hiện các chức năng của Quốc hội là lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát tối cao trong toàn bộ hoạt động của nhà nước và xã hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được hiểu là hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội dùng các phương tiện công cụ của mình để tiến hành tìm hiểu việc thực thi pháp luật quy định về hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.