Luận văn: Vai trò giám sát của Quốc hội VN trong ký kết điều ước quốc tế

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò giám sát của quốc hội việt nam trong quá trình đàm phán ký kết gia nhập và thực hiện các, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam

Vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế là một chủ đề quan trọng. Quốc hội không chỉ là cơ quan lập pháp mà còn là cơ quan giám sát tối cao, đảm bảo rằng các hoạt động của nhà nước tuân thủ đúng quy định pháp luật và lợi ích của nhân dân. Việc giám sát này giúp nâng cao hiệu quả của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

1.1. Khái niệm về giám sát của Quốc hội

Giám sát của Quốc hội được hiểu là hoạt động kiểm tra, đánh giá và theo dõi các hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các điều ước quốc tế. Điều này bao gồm việc xem xét các báo cáo, tài liệu liên quan đến quá trình đàm phán và ký kết.

1.2. Ý nghĩa của giám sát trong hội nhập quốc tế

Giám sát của Quốc hội không chỉ đảm bảo tính hợp pháp mà còn góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều này giúp tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế.

II. Những thách thức trong giám sát của Quốc hội Việt Nam

Mặc dù có vai trò quan trọng, nhưng hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu thông tin, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước chưa chặt chẽ, và sự phức tạp của các điều ước quốc tế là những yếu tố cản trở hiệu quả giám sát.

2.1. Thiếu thông tin và dữ liệu

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu thông tin đầy đủ và kịp thời từ các cơ quan nhà nước. Điều này làm giảm khả năng giám sát và đánh giá của Quốc hội đối với các hoạt động liên quan đến điều ước quốc tế.

2.2. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước

Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình đàm phán và thực hiện điều ước quốc tế chưa thực sự hiệu quả. Điều này dẫn đến việc Quốc hội gặp khó khăn trong việc giám sát và đánh giá các hoạt động này.

III. Phương pháp nâng cao vai trò giám sát của Quốc hội

Để nâng cao vai trò giám sát, Quốc hội cần áp dụng các phương pháp hiệu quả hơn trong việc theo dõi và đánh giá các hoạt động của nhà nước. Việc cải thiện quy trình giám sát và tăng cường hợp tác với các cơ quan liên quan là rất cần thiết.

3.1. Cải thiện quy trình giám sát

Quốc hội cần xây dựng quy trình giám sát rõ ràng và minh bạch hơn. Điều này bao gồm việc thiết lập các tiêu chí đánh giá cụ thể cho các hoạt động liên quan đến điều ước quốc tế.

3.2. Tăng cường hợp tác với các cơ quan liên quan

Việc tăng cường hợp tác với các cơ quan nhà nước và tổ chức quốc tế sẽ giúp Quốc hội có thêm thông tin và nguồn lực để thực hiện giám sát hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giám sát Quốc hội trong điều ước quốc tế

Hoạt động giám sát của Quốc hội đã có những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong việc đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế. Những kết quả này không chỉ nâng cao hiệu quả của các điều ước mà còn góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia.

4.1. Kết quả từ các hoạt động giám sát

Các hoạt động giám sát đã giúp phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót trong quá trình đàm phán và thực hiện điều ước quốc tế, từ đó nâng cao hiệu quả của các thỏa thuận.

4.2. Tác động đến chính sách đối ngoại

Giám sát của Quốc hội đã góp phần định hình chính sách đối ngoại của Việt Nam, đảm bảo rằng các điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích và nhu cầu phát triển của đất nước.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của giám sát Quốc hội

Giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước. Trong tương lai, cần tiếp tục cải thiện và đổi mới hoạt động giám sát để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

5.1. Định hướng phát triển giám sát

Quốc hội cần xác định rõ định hướng phát triển cho hoạt động giám sát, đảm bảo rằng các hoạt động này luôn phù hợp với bối cảnh quốc tế và nhu cầu phát triển của đất nước.

5.2. Tăng cường năng lực cho Quốc hội

Việc tăng cường năng lực cho Quốc hội trong lĩnh vực giám sát sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò giám sát của quốc hội việt nam trong quá trình đàm phán ký kết gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; - Chương 2: Thực trạng quy pháp luật và thực tiễn tác động của việc theo dõi, xem xét, đánh giá của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; - Chương 3: Phương hướng và kiến nghị nâng cao vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. 15 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ 1. Những vấn đề lý luận chung 1. Khái niệm về vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ƣớc quốc tế Theo từ điển Tiếng Việt thì “vai trò” được hiểu “là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó”, còn “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được dùng để chỉ “một chức quan đảm nhận việc theo dõi, xem xét một công việc nào đó” [25].

Như vậy, “vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế” được hiểu là việc Quốc hội khi thực hiện chức năng giám sát, sử dụng hợp lý các phương tiện và công cụ theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng giám sát qua đó có những tác động đến hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân, góp phần thúc đẩy sự phát triển của điều ước quốc tế. Vai trò hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được thể hiện qua quá trình Quốc hội xem xét các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế do Quốc hội ban hành có được các 16 cơ quan nhà nước thực hiện đúng theo những quy định đã được Quốc hội ban hành? Và các cơ quan nhà nước, các cá nhân thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hay không? Trên cơ sở đó để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những chính sách, pháp luật quy định có liên quan không còn phù hợp với thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế hoặc không còn phù hợp với cuộc sống nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật về điều ước quốc tế thống nhất, hiện đại, toàn diện điều chỉnh các quan hệ quốc tế nhằm hợp tác và phát triển, bảo vệ tối đa lợi ích của nhân dân, đất nước, phát triển đất nước theo xu hướng của thời đại [9, tr 7]. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Vì vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội là chức năng giám sát tối cao đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước.

Theo từ điển Luật học của Viện pháp lý, Bộ Tư pháp thì: “Giám sát tối cao được hiểu là quyền của Quốc hội thực hiện giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Hiến pháp năm 1959 mới chỉ ghi nhận quyền của Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp (Điều 50). Quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 82 Hiến pháp năm 1980 và được tiếp tục ghi nhận tại Điều 83 Hiến pháp năm 1993. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp, hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.

Tại kỳ họp, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao trong hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thông qua 17 việc xem xét, phê chuẩn các báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hôi, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong phạm vi quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức thông qua việc xem xét các báo cáo, kiểm tra tình hình thực tế tại chỗ cũng như tiếp xúc với cử tri tại các địa phương” [4]. Theo từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh thì “giám sát là xem xét và đàm hạch” [1]. Về bản chất, giám sát là việc Quốc hội thu thập thông tin về hoạt động của các cơ quan Nhà nước hữu quan và xem xét, đánh giá thông tin thu thập được.

Việc xem xét, đánh giá này là cơ sở để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thể biểu dương hoặc phê phán các chủ thể có liên quan và trong những trường hợp nhất định, bày tỏ sự tín nhiệm của mình trong các chủ thể đó (những người mà Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn). Trên cơ sở của hoạt động giám sát sẽ giúp Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật kịp thời, chính xác nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền theo yêu cầu quản lý nhà nước và xã hội…qua đó vai trò của Quốc hội mới được thể hiện. Vai trò của Quốc hội không thể tách rời hoạt động giám sát và ngược lại Quốc hội thông qua hoạt động giám sát mới thể hiện được vai trò của mình trong việc phát triển chế định điều ước quốc tế. Mối quan hệ giữa vai trò của Quốc hội với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hôi là mối quan hệ hai chiều, khăng khít với nhau, có quan hệ qua lại và tác động hỗ trợ nhau.

18 Vì thế để thể làm rõ vai trò của Quốc hội trong hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, chúng ta phải giải quyết những vấn đề về lý luận về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội nói chung và đối với lĩnh vực ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế nói riêng. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội bao trùm lên toàn bộ hoạt động của nhà nước. Nói cách khác mọi hoạt động của nhà nước đều dưới sự giám sát của Quốc hội, ở đây không có “điểm chết”,“khoảng trống” hay “điểm cấm” của đời sống xã hội. Vì thế, hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân khi thực hiện nhiệm vụ đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế cũng không nằm ngoài thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội.

Khoản 1, Điều 2, Luật số 05/2003/QH11 ngày 26/6/2003 của Quốc hội quy định: “Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội”. Như vậy, nội dung của khái niệm hoạt động giám sát của Quốc hội theo quy định của pháp luật, bao gồm: Chủ thể giám sát, chủ thể bị giám sát, hậu quả của hoạt động giám sát, cơ sở của hoạt động giám sát, các phương thức để thực hiện hoạt động giám sát. Nói đến hoạt động giám sát là nói đến hoạt động của các cơ quan dân cử gồm có Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Thẩm quyền giám sát của Quốc hội rất rộng lớn, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có tính chất pháp lý cao nhất: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước” [16].

Điều này xuất phát từ bản chất nhà nước, nhà 19 nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân bầu ra Quốc hội trên nguyên tắc trực tiếp, phố thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Thông qua Quốc hội, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, các đại biểu Quốc hội với lá phiếu bầu của nhân dân họ sẽ thay mặt nhân dân thực hiện các chức năng của Quốc hội là lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát tối cao trong toàn bộ hoạt động của nhà nước và xã hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được hiểu là hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội dùng các phương tiện công cụ của mình để tiến hành tìm hiểu việc thực thi pháp luật quy định về hoạt động đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ