Chương 1: Lý luận chung về dân chủ và vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Chương 2: Thực trạng vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 8 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Một số khái niệm liên quan đến “Dân chủ” và “Dân chủ Xã hội chủ nghĩa” 1. Sự hình thành và phát triển của dân chủ trong lịch sử Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, là khát vọng sâu xa của nhân loại. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp - Herodotos (484 - 425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử. Theo ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và dân chủ, trong đó dân chủ là một thể chế mà quyền lực do nhân dân nắm giữ thông qua con đường phổ thông đầu phiếu. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình phân công lao động xã hội, sự ra đời của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp đã đưa đến sự ra đời của nền dân chủ chủ nô.
Nền dân chủ chủ nô đã thay thế “nền dân chủ quân sự” - đó là một bước tiến dài trong lịch sử. Trong nền dân chủ này giai cấp chủ nô nắm hết quyền lực nhà nước, các quyền tự do và bình đẳng của chủ nô và các công dân tự do được bảo đảm, còn giai cấp nô lệ không có quyền gì, kể cả quyền sống, quyền làm người, nô lệ chỉ là tài sản, là công cụ biết nói của chủ nô. Giai cấp chủ nô nhân danh xã hội, chiếm đoạt nhà nước, biến nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị của mình. Như vậy, sự ra đời của xã hội chiếm hữu nô lệ là một bước phát triển 9 của lịch sử so với xã hội công xã nguyên thủy nhưng nhân dân lao động vẫn không có một quyền lực gì.
Trong ngôn ngữ của người Hy Lạp, Demokratos là dân chủ, trong đó: “demos” là “nhân dân” và “kratos” là “quyền lực”. Như vậy, theo nghĩa ban đầu của nó, dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân dân. Cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã khai sinh ra nền dân chủ tư sản. Nền dân chủ tư sản trong các nhà nước cộng hòa tư sản là nền dân chủ đã phát triển ở mức độ cao trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người.Lênin đã đánh giá rất cao nền dân chủ tư sản „„Nền dân chủ tư sản đánh dấu một bước tiến bộ to lớn về mặt lịch sử so với chế độ Nga hoàng, với chính thể chuyên chế, với chế độ quân chủ và với tất cả những tàn tích của chế độ phong kiến‟‟.
Tuy nhiên, nền dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ đích thực, đó là nền dân chủ cho người giàu, cho giai cấp tư sản. Như vậy, chế độ dân chủ tư sản vẫn là công cụ bảo vệ quyền lực, lợi ích cho giai cấp tư sản, còn nhân dân lao động có dân chủ nhưng dân chủ đó chỉ là hình thức ; giai cấp công nhân vẫn là người làm thuê cho giai cấp tư sản. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nhân dân lao động bị áp bức đã làm cuộc cách mạng thành công, đã giành lấy chính quyền về tay mình, lập ra nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động lập ra, thực hiện quyền lực của nhân dân lao động và thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ của đại đa số nhân dân lao động. Như vậy, trong các chế độ dân chủ đã từng tồn tại, chỉ có chế độ dân chủ vô sản, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mới là nền dân chủ đích thực, là nền dân chủ dành cho số đông, dân chủ của tuyệt đại đa số nhân dân lao động. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ rộng rãi nhất và triệt để nhất trong lịch sử. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân chủ Xã hội chủ nghĩa Dân chủ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện và phát triển với tư cách là kết quả trực tiếp của đời sống chính trị và sự vận động chính trị của các giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực thuộc về giai cấp nào trong xã hội.
Do đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng trong xã hội có giai cấp và nhà nước thì không thể có một nền “dân chủ chung chung”, “dân chủ thuần tuý” mà dân chủ luôn gắn với nhà nước, luôn mang bản chất của một giai cấp nhất định, giai cấp nắm quyền thống trị xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin còn quan niệm dân chủ là một hình thức chính thể nhà nước và chính thể dân chủ nhất trong các hình thức chính thể ở các hình thái kinh tế - xã hội là chính thể cộng hòa dân chủ. Chính thể cộng hòa dân chủ tồn tại trong các nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô, cộng hòa dân chủ tư sản và các nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong các nước cộng hòa dân chủ, quyền tham gia vào bầu cử để lập ra cơ quan quyền lực của nhà nước được quy định trong pháp luật.
Việc quy định này thể hiện sự ghi nhận về mặt nhà nước „„quyền lực thuộc về nhân dân‟‟ nhưng trên thực tế các giai cấp thống trị của các nhà nước bóc lột luôn tìm mọi cách, đặt ra nhiều quy định nhằm hạn chế quyền dân chủ này của nhân dân lao động và như vậy để có quyền lực thật sự thì „„Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự mình giành lấy chính quyền, phải tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc‟‟, phải giành lấy quyền lực nhà nước - quyền lực dân chủ về chính trị và tổ chức nên nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản - một chế độ dân chủ hoàn toàn khác về chất so với các chế độ xã hội trước đó. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phát triển mới về chất, khác về nguyên tắc và bản chất so với nền dân chủ tư sản. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp 11 công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện ở sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản nhằm thực hiện quyền lực và lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc của nhà nước, là nền dân chủ dành cho số đông, dân chủ của tuyệt đại đa số nhân dân lao động. Do đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và có tính dân tộc sâu sắc. Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của nhân dân lao động, là nền dân chủ rộng rãi nhất và triệt để nhất trong lịch sử. Khi giai cấp công nhân thông qua chính Đảng của mình lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động đứng lên đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ quyền cai trị của giai cấp tư sản và tự mình trở thành giai cấp cầm quyền và xây dựng nền dân chủ vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa thì giai cấp công nhân mới thực sự trở thành người làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình.
Chỉ có xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa thì mọi đặc quyền, đặc lợi mới bị xóa bỏ và quyền lực thực sự vào tay đại đa số nhân dân lao động. Từ những khái niệm về dân chủ XHCN và chế độ dân chủ XHCN, có thể rút ra bản chất của chế độ dân chủ XHCN là "Quyền làm chủ thực tế trên mọi lĩnh vực xã hội của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và thông qua sự quản lý của nhà nước XHCN". Chế độ dân chủ XHCN là chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Cơ sở khách quan qui định bản chất chế độ dân chủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và bản chất chính trị - xã hội của giai cấp công nhân.
Dân chủ phải gắn liền với chế độ nhà nước, nhà nước XHCN là nhà nước của dân, do dân và vì dân, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. 12 Chế độ dân chủ XHCN là nền dân chủ thực sự chứ không phải là dân chủ hình thức, nó hoàn toàn đối lập với dân chủ cực đoan, vô chính phủ, với chuyên quyền độc đoán. Nội dung, đặc điểm của nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các văn kiện nghị quyết của Đảng ta, nội dung của dân chủ XHCN được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. + Trong lĩnh vực kinh tế, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất.
Mục đích của CNXH là chăm lo, bảo đảm lợi ích của người lao động. Do đó, nhân dân lao động là người làm chủ trong phát triển lực lượng sản xuất, trong phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN.