Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THANH TRA NHÀ NƢỚC TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Khái quát chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Quan niệm về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm và đặc điểm của tham nhũng Mặc dù tồn tại từ lâu trong lịch sử nhân loại, nhƣng đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, tham nhũng mới thật sự đƣợc cảnh báo nhƣ là hiểm họa đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, bất kể chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, đến nay chƣa có một định nghĩa nào mang tính tổng hợp và đƣợc chấp nhận trên phạm vi toàn về tham nhũng. Các nỗ lực xây dựng một định nghĩa nhƣ vậy đã gặp phải những vấn đề luật pháp, tội phạm học và ở nhiều quốc gia trên thế giới, là cả về chính trị [24, tr. Theo tài liệu hƣớng dẫn của Liên hợp quốc về chống tham nhũng cho rằng:“Tham nhũng - đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”. Cách tiếp cận của Liên hợp quốc cũng nhƣ pháp luật của nhiều nƣớc, trong đó có Việt Nam, coi tham nhũng chỉ có thể chỉ xảy ra ở khu vực công, mang yếu tố quyền lực nhà nƣớc.
Nhƣng ở một cách tiếp cận rộng hơn, Hội đồng châu Âu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở cả khu vực công và khu vực tƣ. Từ đó, Ban nghiên cứu thuộc Hội đồng châu Âu định nghĩa: Tham nhũng bao gồm những hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi khác của những ngƣời đƣợc giao thực hiện trách nhiệm nào đó trong khu vực nhà nƣớc hoặc khu vực tƣ nhân, nhƣng đã vi phạm trách nhiệm đƣợc giao để thu bất kỳ một thứ lợi bất hợp pháp nào cho cá nhân hoặc cho ngƣời khác [24, tr. Tổ chức minh bạch quốc tế cho rằng: Tham nhũng là hành vi của người 9 lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân. Bản chất của tham nhũng đƣợc mô tả qua công thức: Tham nhũng = Độc quyền + Bƣng bít thông tin - Trách nhiệm giải trình Công thức trên có thể đƣợc diễn giải một cách cụ thể là: mức độ tham nhũng phụ thuộc vào sự độc quyền, quyền tùy ý quyết định mà các quan chức sử dụng và vào mức độ mà họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.
Ở Việt Nam, tham nhũng theo quan điểm của Từ điển Tiếng Việt là “lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của”. Còn theo Hồ Chí Minh bản chất của tham ô: là lấy của công làm của tƣ, là gian lận tham lam, tham ô là trộm cƣớp. Khái niệm tham nhũng, sau nhiều cố gắng, đã đƣợc luật hóa tại Việt Nam. Khái niệm tham nhũng đƣợc quy định tại Luật PCTN năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012 (sau đây gọi là Luật PCTN).
Trong khoản 2, Điều 1 của Luật PCTN thì: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [19, Điều 1] Theo đó, Luật PCTN quy định có 12 hành vi tham nhũng gồm: 1. Tham ô tài sản 2. Nhận hối lộ 3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 4.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi 5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi 6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng với ngƣời khác để trục lợi 7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi 8.
Đƣa hối lộ, môi giới hối lộ đƣợc thực hiện bởi ngƣời có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phƣơng vì vụ lợi 10 9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nƣớc vì vụ lợi 10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi 11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi 12.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Tuy vậy, không phải hành vi tham nhũng nào cũng bị coi là tội phạm, bởi mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của mỗi hành vi là khác nhau. Vì vậy, Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là BLHS) quy định có các tội sau: 1. Tội tham ô tài sản 2.
Tội nhận hối lộ 3. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 4. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 5. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ 6.
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục lợi 7. Tội giả mạo trong công tác [17, Điều 278- Điều 284). Nhƣ vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về tham nhũng, theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, theo hƣớng tiếp cận khác nhau. Việc xác định rõ ràng và có quan niệm đúng đắn về tham nhũng là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo tính hiệu quả trong đấu tranh phòng và chống tệ nạn này.
Trong điều kiện cuộc đấu tranh chống tham nhũng còn nhiều cam go, phức tạp thì sự thống nhất trong quan niệm về tham nhũng là rất cần thiết. Tiếp thu những điểm hợp lý trong các quan điểm trên, ở góc độ nghiên cứu tham nhũng nhƣ một hiện tƣợng xã hội mang tính lịch sử, có thể thấy 11 tham nhũng hiện nay không chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực công mà còn mở rộng đến khu vực tƣ và về cơ bản tham nhũng thể hiện bằng hành vi lợi dụng uy thế và chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân hoặc cho ngƣời khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về tài sản của nhà nƣớc, của tập thể, của công dân. Hay nói ngắn gọn, một hành vi đƣợc coi là tham nhũng là hành vi sử dụng quyền lực của tổ chức giao phó nhƣng chủ thể đƣợc giao nhiệm vụ sử dụng nó nhƣ một công cụ để trục lợi cho mình hoặc cho ngƣời khác. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc điểm cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là ngƣời có chức vụ, quyền hạn Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là ngƣời có chức vụ, quyền hạn.
Ngƣời có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nƣớc; cán bộ lãnh đạo, quản lý là ngƣời đại diện phần vốn góp của Nhà nƣớc tại doanh nghiệp; ngƣời đƣợc giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3, điều 1, Luật PCTN). Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn đƣợc giao “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trƣng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” nhƣ một phƣơng tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho ngƣời khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng.
Một ngƣời có chức vụ, quyền hạn nhƣng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức 12 vụ, quyền hạn đó đều đƣợc coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lƣu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác. Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý.
Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây đƣợc hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã đạt đƣợc hoặc có thể đạt đƣợc thông qua hành vi tham nhũng. Nhƣ vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt đƣợc lợi ích.
Đối với khu vực tƣ, khi có vụ việc tham nhũng xảy ra, pháp luật đã có những sự điều chỉnh nhất định. Tuy nhiên, cũng có trƣờng hợp, ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực tƣ cấu kết, móc nối với những ngƣời thoái hoá, biến chất trong khu vực công hoặc lợi dụng ảnh hƣởng của những ngƣời này để trục lợi. Trong trƣờng hợp đó, họ trở thành đồng phạm khi ngƣời có hành vi tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khái niệm và đặc điểm của phòng, chống tham nhũng PCTN đƣợc hiểu là tổng thể các biện pháp của các cơ quan có thẩm quyền phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh các chủ thể đƣợc trao quyền lực công lợi dụng quyền lực công đó để thể hiện các hành vi tƣ lợi.
Các biện pháp PCTN là cách thức tác động mà cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống mầm mống phát sinh tham nhũng, các hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác cho mình hoặc ngƣời khác. Xuất phát từ quan niệm về tham nhũng và PCTN có thể rút ra một số đặc điểm của PCTN nhũng nhƣ sau: 13 Một là, vì tham nhũng là căn bệnh quyền lực, nên PCTN trong cơ quan nhà nƣớc trƣớc hết là chống tham nhũng trong bộ máy quyền lực. Đối tƣợng của nó là những con ngƣời và những khuyết tật của hệ thống cơ quan nhà nƣớc, trong đó gồm cả những ngƣời giữ vị trí cao và quan trọng. Vì vậy, cần có quyết tâm và sự cố gắng, tập trung cao mới có thể PCTN hiệu quả.
Hai là, PCTN nhằm tìm ra những cán bộ, công chức thoái hóa, tìm ra những khiếm khuyết trong hoạt động quản lý nhà nƣớc để từ đó đƣa ra các biện pháp khắc phục. Ba là, tính chất của hoạt động PCTN rất quan trọng và phức tạp.