Mở đầu Phần 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chè Shan tuyết tỉnh Hà Giang Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị 4 c PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ 2. Một số khái niệm liên quan 2.
Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị được biết đến như là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Micheal Porter vào năm 1985. Có ba dòng nghiên cứu chính trong tài liệu chuỗi giá trị được phân biệt như sau: i) Khung khái niệm của M. Ý tưởng về chuỗi giá trị hoàn toàn mang tính trực giác, chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Kaplinsky and Morris, 2001). Đã có nhiều quan điểm của các nhà kinh tế học đưa ra về khái niệm chuỗi giá trị và đến năm 1999, Kaplinsky đưa ra một khái niệm cụ thể và phù hợp hơn trong nghiên cứu nông sản, đó là: "Chuỗi giá trị (value chain) mô tả tổng thể các hoạt động cần thiết để đưa sản phẩm hay dịch vụ từ ý tưởng, thông qua trung gian sản xuất, đưa tới người tiêu dùng cuối cùng và loại bỏ sau khi sử dụng" (Kaplinsky, 1999).
Khái niệm chuỗi giá trị này sẽ bao gồm cả các vấn đề về tổ chức, điều phối, các chiến lược và quan hệ của những người tham gia vào chuỗi, ngoài ra đó còn cả các vấn đề liên quan đến các khía cạnh xã hội và môi trường. Tuy nhiên, trong phát biểu khái niệm chuỗi giá trị chủ yếu chỉ quan tâm đến liên kết, phân phối giá trị theo chiều dọc nhằm xác định giá trị gia tăng, lợi ích thu được của từng tác nhân trong ngành hàng chứ chưa thể hiện được hết ý nghĩa của chuỗi giá trị trong việc tiếp cận thể chế chính sách, xã hội và môi trường. Trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Chính và cs. (2011) về “Phát triển chuỗi giá trị gà ta bản địa”, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai khái niệm về chuỗi 5 c giá trị theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
* Theo nghĩa hẹp, chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này bắt đầu từ giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi… Tất cả những hoạt động này tạo thành một "chuỗi" kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Ngoài ra, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng (Nguyễn Đình Chính và cs. * Theo nghĩa rộng, chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều tác nhân tham gia khác nhau thực hiện (từ người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ .) để biến từ các nguyên liệu thô thành thành phẩm để bán lẻ.
Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, sơ chế, chế biến (Nguyễn Đình Chính và cs. Các hoạt động và các tác nhân trong chuỗi giá trị được mô tả ở sơ đồ sau: Đầu Sản Thu Chế Thương Tiêu vào xuất gom biến mại thụ Người Nhà cung Nhà sản Cơ sở Cơ sở Cơ sở bán tiêu dùng cấp đầu xuất thu gom chế biến buôn, bán lẻ Giá trị tăng thêm Thông tin được trao đổi Sơ đồ 2. Các hoạt động trong chuỗi giá trị Nguồn: Kaplinsky and Morris (2001) Cách tiếp cận chuỗi giá trị theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược và xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất ra thành phẩm và kết nối với người tiêu dùng cuối cùng. Khái niệm này bao hàm cả các vấn đề về tổ chức và 6 c điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi.
Chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị, vô cùng quan trọng đối với các nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị. Việc thiết lập hoặc sự hình thành các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, đất đai, có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm. Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống (Nguyễn Đình Chính, 2011). Tóm lại, có thể hiểu theo nghĩa hẹp chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động được thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định.
Theo nghĩa rộng, chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ. Chuỗi giá trị bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các tác nhân khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá trị gia tăng Khái niệm về giá trị gia tăng là một trong những khái niệm cơ bản trong kinh tế học và hoạt động kinh doanh, do đó nó được đề cập tới trong nhiều sách và ấn phẩm về kinh tế và quản lý nói chung Một trong những cách hiểu thông thường nhất về giá trị gia tăng, đó là sự chênh lệch giữa giá bán một sản phẩm trên thị trường với chi phí đầu vào (Per Lind, 2005). Khái niệm này cho thấy tầm quan trọng của giá trị gia tăng trong việc phát triển một sản phẩm.
Thông thường thì giá trị của một sản phẩm không được xác định bởi người sản xuất mà bởi thị trường và do đó giá trị gia tăng của một sản phẩm cũng không được quyết định bởi người sản xuất mà bởi thị trường. Giá trị gia tăng là mức đo độ thịnh vượng được tạo ra trong chuỗi giá trị. Hay có thể hiểu, giá trị gia tăng của sản phẩm cuối cùng chính là tổng giá trị gia tăng của từng khâu trong chuỗi giá trị. Giá trị gia tăng là một bộ phận của giá trị sản xuất, sau khi trừ đi chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh phần giá trị tăng thêm của kết quả sản xuất kinh doanh do các tác nhân trong chuỗi tạo ra.
Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp * Khái niệm: Hiện nay có rất nhiều lý luận về doanh nghiệp, xét ở các khía cạnh vấn đề khác nhau thì doanh nghiệp được hiểu ở các phạm trù nhất định. Tại Khoản 7 Điều 4, Luật doanh nghiệp 2014 (Luật số 68/2014/QH13 ngày 7 c 26/11/2014) định nghĩa về doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập, có tài khoản, con dấu riêng, được tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành nghề không bị pháp luật cấm. Doanh nghiệp được Nhà nước bảo hộ về pháp lý (Nguyễn Đình Chính, 2014).
Theo chức năng nhiệm vụ: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (Kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 ). Theo quan điểm hệ thống: doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu.
Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. Vậy, khái niệm doanh nghiệp trong nông nghiệp có thể được hiểu như sau: doanh nghiệp trong nông nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh trong ngành nông nghiệp (Nguyễn Đình Chính, 2014). Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp có mục tiêu nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng và có sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng kí (Quốc hội, 2014). Nhà nước có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp xã hội.
Các doanh nghiệp xã hội ngoài các quyền và nghĩa vụ nêu ở dưới còn được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 7 và 8 c Điều 8 của Luật doanh nghiệp 2014, trong đó đáng chú ý doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật không cấm, được tự chủ kinh doanh và lựa chọn tổ chức kinh doanh, chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh,. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp nhưng trước khi sử dụng doanh nghiệp phải thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng kí kinh doanh để đăng tải công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng kí doanh nghiệp (Quốc hội, 2014).