Luận Văn Thạc Sĩ Về Phân Tâm Học Trong Tiểu Thuyết Trăm Năm Cô Đơn Của G. Marquez

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh tiểu thuyết trăm năm cô đơn của g marquez dưới góc nhìn phân tâm học, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận văn

0.6. Cấu trúc đề tài

1. CHƯƠNG 1: MACÔNĐÔ VỚI NHỮNG GIẤC MƠ ÁM ẢNH

1.1. Ucsula với nỗi sợ tội loạn luân

1.2. Loạn luân và những giải thích cổ điển

1.3. Ucsula người phụ nữ luôn bị ám ảnh bởi tội loạn luân

1.4. Hôsê Accađiô Buyênđya con người hai cá tính và giấc mơ về những phát minh khoa học

1.4.1. Hôsê Accađiô Buyênđya con người hai cá tính cô đơn trong nỗi ám ảnh về tội lỗi trong quá khứ

1.4.2. Hôsê Accađiô Buyênđya trăn trở về những phát minh khoa học

1.5. Cuộc đời chinh chiến của Aurêlianô và những nỗi ám ảnh về những lời tiên tri

1.5.1. Cuộc đời chinh chiến

1.5.2. Nỗi ám ảnh về những lời tiên tri

1.6. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT CÔ ĐƠN BỊ ÁM ẢNH TÍNH DỤC

2.1. Vấn đề tình yêu, tính dục trong sáng tác của Gabriel Garcia Marquez

2.2. Yếu tố tính dục trong tác phẩm Trăm năm cô đơn

2.2.1. Macondo không gian mang tính dục

2.3. Nhân vật mang tính dục, mối quan hệ chằng chéo giữa những người cận huyết

2.4. Rêmêđiốt – người đẹp nhân vật miễn dịch với tính dục giữa thế giới đầy dục tình

2.5. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: VÔ THỨC TẬP THỂ TRONG TRĂM NĂM CÔ ĐƠN

3.1. Vô thức một vấn đề khoa học

3.2. Vô thức trong vấn đề sáng tạo văn chương

3.3. Vô thức của tập thể trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn

3.4. Những ám ảnh về thực tại khách quan của Gabriel Garcia Marquez

3.5. Bi kịch trong dòng họ Buyênđya một nỗi ẩn ức vô thức

3.6. Vô thức giữa cái bản ngã, bất lực dồn nén trong tình yêu

3.7. Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tâm Học Trong Tiểu Thuyết Trăm Năm Cô Đơn

Tiểu thuyết "Trăm năm cô đơn" của G. Marquez không chỉ là một tác phẩm văn học nổi tiếng mà còn là một bức tranh sâu sắc về tâm lý con người. Phân tâm học, với những lý thuyết của Freud và Jung, cung cấp một lăng kính để hiểu rõ hơn về các nhân vật và mối quan hệ phức tạp trong tác phẩm này. Tác phẩm thể hiện những ám ảnh, nỗi cô đơn và những xung đột nội tâm của các nhân vật, phản ánh sâu sắc tâm lý nhân loại.

1.1. Phân Tâm Học Là Gì Và Ứng Dụng Trong Văn Học

Phân tâm học là một lĩnh vực nghiên cứu tâm lý con người, tập trung vào những động lực vô thức. Trong văn học, nó giúp phân tích các nhân vật và mối quan hệ của họ, từ đó làm sáng tỏ những xung đột nội tâm và động cơ hành động. G. Marquez đã khéo léo sử dụng các yếu tố này để xây dựng các nhân vật trong "Trăm năm cô đơn".

1.2. Tác Động Của Phân Tâm Học Đến Nhân Vật Trong Tác Phẩm

Các nhân vật trong "Trăm năm cô đơn" như José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán thể hiện rõ những ám ảnh và nỗi sợ hãi. Những xung đột nội tâm của họ không chỉ phản ánh những vấn đề cá nhân mà còn là biểu tượng cho những vấn đề xã hội rộng lớn hơn. Phân tâm học giúp người đọc hiểu sâu hơn về những động lực này.

II. Những Vấn Đề Tâm Lý Trong Tiểu Thuyết Trăm Năm Cô Đơn

Tác phẩm "Trăm năm cô đơn" không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về dòng họ Buendía mà còn là một nghiên cứu sâu sắc về tâm lý con người. Những vấn đề như loạn luân, cô đơn và ám ảnh về tội lỗi là những chủ đề chính trong tác phẩm. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến các nhân vật mà còn phản ánh những khía cạnh của xã hội Mỹ Latinh.

2.1. Cô Đơn Và Ám Ảnh Trong Cuộc Sống Của Nhân Vật

Cô đơn là một chủ đề trung tâm trong tác phẩm. Các nhân vật như Aureliano Buendía và Rebeca sống trong những nỗi cô đơn triền miên, điều này không chỉ là kết quả của hoàn cảnh mà còn là những ám ảnh tâm lý sâu sắc. Những nỗi cô đơn này thể hiện sự mất mát và tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống.

2.2. Tình Yêu Và Tính Dục Trong Bối Cảnh Phân Tâm Học

Tình yêu và tính dục trong "Trăm năm cô đơn" không chỉ đơn thuần là những mối quan hệ giữa các nhân vật mà còn là những biểu hiện của những xung đột nội tâm. Những mối quan hệ cận huyết và những ám ảnh về tình dục thể hiện rõ ràng những vấn đề tâm lý phức tạp mà các nhân vật phải đối mặt.

III. Phương Pháp Phân Tâm Học Trong Phân Tích Tác Phẩm

Phân tâm học cung cấp nhiều phương pháp hữu ích để phân tích "Trăm năm cô đơn". Các phương pháp này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các nhân vật mà còn làm sáng tỏ những thông điệp sâu sắc mà G. Marquez muốn truyền tải. Việc áp dụng các lý thuyết phân tâm học vào tác phẩm giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về tâm lý nhân vật.

3.1. Phân Tích Nhân Vật Qua Lăng Kính Phân Tâm Học

Phân tích nhân vật qua lăng kính phân tâm học giúp làm rõ những động lực vô thức và những ám ảnh mà họ phải đối mặt. Ví dụ, José Arcadio Buendía thể hiện sự đấu tranh giữa lý trí và cảm xúc, điều này phản ánh những xung đột nội tâm mà nhiều người gặp phải trong cuộc sống.

3.2. Sử Dụng Biểu Tượng Để Hiểu Tâm Lý Nhân Vật

G. Marquez sử dụng nhiều biểu tượng trong tác phẩm để thể hiện tâm lý nhân vật. Những biểu tượng này không chỉ là những hình ảnh đơn thuần mà còn mang ý nghĩa sâu sắc, phản ánh những nỗi sợ hãi và ám ảnh của các nhân vật. Việc phân tích những biểu tượng này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm lý của nhân vật.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phân Tâm Học Trong Nghiên Cứu Văn Học

Phân tâm học không chỉ là một công cụ lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong nghiên cứu văn học. Việc áp dụng các lý thuyết phân tâm học vào tác phẩm "Trăm năm cô đơn" giúp làm sáng tỏ những vấn đề tâm lý phức tạp và những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới.

4.1. Nghiên Cứu Tâm Lý Nhân Vật Trong Văn Học

Nghiên cứu tâm lý nhân vật trong văn học giúp làm rõ những động lực và xung đột nội tâm. Việc áp dụng phân tâm học vào các tác phẩm văn học khác cũng có thể mang lại những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

4.2. Tác Động Của Văn Học Đến Tâm Lý Độc Giả

Văn học không chỉ phản ánh tâm lý nhân vật mà còn tác động đến tâm lý độc giả. Những tác phẩm như "Trăm năm cô đơn" có thể gợi lên những cảm xúc và suy nghĩ sâu sắc, từ đó ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của độc giả về cuộc sống và con người.

V. Kết Luận Về Phân Tâm Học Trong Tiểu Thuyết Trăm Năm Cô Đơn

Phân tâm học cung cấp một lăng kính hữu ích để hiểu rõ hơn về "Trăm năm cô đơn" của G. Marquez. Những ám ảnh, nỗi cô đơn và xung đột nội tâm của các nhân vật không chỉ phản ánh tâm lý con người mà còn là những vấn đề xã hội sâu sắc. Việc áp dụng phân tâm học vào tác phẩm giúp mở ra những hướng nghiên cứu mới và làm sáng tỏ những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Phân Tâm Học Trong Văn Học

Nghiên cứu phân tâm học trong văn học sẽ tiếp tục phát triển và mở rộng. Những tác phẩm mới và những lý thuyết mới sẽ được áp dụng để làm sáng tỏ những vấn đề tâm lý phức tạp trong văn học.

5.2. Giá Trị Của Văn Học Trong Việc Hiểu Tâm Lý Con Người

Văn học đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu tâm lý con người. Những tác phẩm như "Trăm năm cô đơn" không chỉ là những câu chuyện mà còn là những nghiên cứu sâu sắc về tâm lý và xã hội.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1. Macondo với những giấc mơ ám ảnh Chƣơng 2. Nhân vật cô đơn bị ám ảnh tính dục Chƣơng 3. Sự vô thức của tập thể 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.

MACÔNĐÔ VỚI NHỮNG GIẤC MƠ ÁM ẢNH Năm 1900. Freud công bố công trình Lý giải các giấc mơ. Việc phân tích cặn kẽ các giấc mơ của người nào đó đã trải qua là một thành công của ông, con đường đi đến làm rõ cái vô thức. Các giấc mơ đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt đối với Freud, bởi theo ông, có thể từ việc phân tích các giấc mơ, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn cấu trúc tâm thần người, rõ hơn về cái vô thức trong con người.

Từ các ca lâm sàng trong chữa trị bệnh tâm thần, ông đã đi đến kết luận: Các giấc mơ đều không xa lạ với người nằm mơ, đều luôn khó hiểu với người đó. Các giấc mơ đều có một ý nghĩa nhất định nào đó. Không những giấc mơ có một ý nghĩa mà ý nghĩa của giấc mơ là nguyên nhân gây nên giấc mơ. Trong các giấc mơ có các “ý tưởng tiềm ẩn” cần được khám phá.

Nội dung biểu hiện của giấc mơ có thể thực hiện trá hình những ham muốn bị dồn nén vào vùng vô thức. Bên cạnh đời sống thực tại, các nhân vật của Marquez còn sống trong đời sống của những giấc mộng. Giấc mơ là thuộc tính của tư duy thần thoại. Các nhà khoa học tin rằng giấc mơ ẩn chứa nhiều điều thần bí nhưng liên quan nhất định đến đời sống thực của con người, có sự liên thông giữa thế giới mộng ảo và đời sống tâm lí cũng như quá trình nhận thức của con người thường nhật.

Và Marquez đã để cho nhân vật của mình bơi trong cuộc chu du tâm tưởng để đến với miền đất còn bí ẩn và không kém phần phức tạp.1 Ucsula với nỗi sợ tội loạn luân Nỗi ám ảnh về tội loạn luân luôn đeo bám những con người thuộc dòng họ Buyênđia. Họ cô đơn giữa ngôi nhà của mình, cô đơn giữa những người thân, cô đơn trên chính chiếc giường của mình và nỗi cô đơn đó ám ảnh cả trong những giấc mơ của họ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người phụ nữ luôn có ý thức và canh cánh trong mình nỗi ám ảnh về tội loạn luân. Chính Ucsula đã được mẹ kể về tấm gương về người sinh ra một đứa trẻ có đuôi lợn.

Cũng chính điều này đã đeo bám bà ngay trong đêm tân hôn, và một năm sau ngày cưới. Sau này, sau mỗi lần sinh nở bà luôn cẩn thận kiểm tra kĩ khắp người đứa trẻ. Nỗi ám ánh đó, khiến bà luôn canh cánh, nhắc nhớ các con mình về nỗi kinh hoàng của tội loạn luân. Sự minh mẫn của một bà lão ngoài trăm tuổi đã để bà chứng kiến những thế hệ con cháu Buyênđia có một sự khác lạ, sự cô đơn, cá tính khác người còn đáng sợ hơn cái đuôi lợn.1 Loạn luân và những giải thích cổ điển Từ giữa thể kỉ XIX loan luân được xem là một sự ghê tởm tự phát, nỗi sợ hãi về những hậu quả xấu của quan hệ huyết thống.

Các lý thuyết do các nhà nhân học đưa ra từ cuối thể kỉ XIX để giải thích việc cấm loạn luân có ba loại; tâm lý học, sinh học, xã hội – văn hóa. Các lý thuyết thứ nhất giả định rằng việc cấm loạn luân là nhắc lại, dưới hình thức một quy tắc, một sự ghê tởm tự phát ở con người đối với một đối tác của mình. Nhà tộc học người Phần Lan Edward Westermark năm 1891, nhà tính dục học Anh Havelock Ellis năm 1906 đã phát triển ý tưởng cho rằng sự chung sống lâu dài giữa những thành viên cùng một gia đình sẽ làm cho ham muốn mất đi. Lý thuyết thứ hai coi những hậu quả sinh học là có thể có của sự tái sinh sản giữa những người cùng dòng máu.

Sự kết hợp giữa những người thân thích ở con người, động vật và một số thực vật có thể có những hiệu quả di truyền có hại theo hai kiểu: tăng dần số của những khuyết tật di truyền và trong trường hợp lặn lại ở nhiều thế hệ, một hiện tượng “suy sụp về dòng máu”, còn gọi là “thoái hóa”. Ở các nước phương Tây. Đó là lý do thường được nêu ra. Trong các tín ngưỡng trên toàn thế giới, thường xảy ra 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những sự sinh đẻ không bình thường được gán cho những tập quán loạn luân đã biết rõ hay được giả định.

Cuối cùng, lý thuyết thứ ba dựa vào những lý do xã hội hay những biểu tượng tập thể. Tiểu luận của Emile Durkheim công bố năm 1897 là một ví dụ rõ ràng. Ông khẳng định tất cả các xã hội đều phải trải qua giai đoạn thờ vật tổ. Thế nhưng, việc thờ vật tổ cũng chìm ngập trong nỗi khiếp sợ máu vật tổ, mà vật tổ cũng lại thuộc nhóm họ hàng của người ta.

Phạm tội loạn luân là có nguy cơ tiếp xúc với máu vật tổ ấy. Do đó mà có sự cấm kỵ thật sự về hành vi này. Ý tưởng của Durkheim là có hiệu quả: nó không chỉ tính đến sự loạn luân sinh học mà đến cả những quy tắc riêng của mỗi xã hội về cái bên trong và cái bên ngoài của nhóm cùng dòng máu. Nhưng ý tưởng ấy không có chỗ dựa vững chắc: việc thờ vật tổ có lẽ không bao giờ tồn tại dưới hình thức người ta gán cho nó, ít ra cũng không phải là một giá trị phổ biến, và sự sợ máu không có lien quan tất yếu với những quan hệ tính dục.

Theo từ điển Tiếng Việt: “loạn luân dùng để chỉ quan hệ nam nữ về xác thịt với nhau giữa những người cùng máu mủ trái với phong tục tập quán hoặc pháp luật.” (24,574) Dù trong bất cứ trường hợp nào, vô tình hay cố ý thì hành động loạn luân vẫn không thể chấp nhận được và đáng lên án một cách khắt khe. Trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, dòng họ Buênđia trong vòng 100 năm trải qua bảy đời và hầu như đời nào cũng có dấu hiệu loạn luân. Mà xét cho cùng nguyên nhân sâu xa của việc đó chính là việc họ cố chạy trốn tội loạn luân nhưng lại không sao trốn thoát sự cám dỗ một cách vô thức và sự ám ảnh bởi mặc cảm trong quá khứ.2 Ucsula người phụ nữ luôn bị ám ảnh bởi tội loạn luân Trong Trăm năm cô đơn, Ucsula là người phụ nữ cần mẫn, năng nổ, thông minh và kiên định. Dưới sự chăm lo của bà, gia đình Buendia là tâm 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm của làng Macondo – một gia đình giàu có luôn mở rộng cửa đón khác.

“Đức cần mẫn của Ucsula sánh ngang với đức cần mẫn của chồng mình. Bà năng nổ, mảnh khảnh, kiên nghị. Người đàn bà run rẩy mà chẳng một ai nghe thấy cất tiếng hát trong suốt cả cuộc đời mình, là người có mặt ở khắp chốn kể từ lúc trời vừa bừng sáng cho đến khi tối mịt, lúc nào cũng bận bịu với đàn gà nhíp nhíp. Nhờ có bà, nền đất nện không chút bụi, tường đất không vẩy bẩn, bàn ghế giường tủ do chính bàn tay vợ chồng bà làm nên lúc nào cũng sạch sẽ, và những rương hòm cũ đựng quần áo lúc nào cũng dịu thơm mùi húng dổi.

Sống để canh chừng con cháu, bà rút ra rằng thời gian cứ quay tròn, thế hệ trước cứ giống thế hệ sau, mãi là tù nhân của sự cô đơn, mãi không thoát khỏi tội kiếp loạn luân của dòng họ. Bà là minh chứng cho sự nỗ lực, kiên cường của người phụ nữ của gia đình. Gia cảnh nhà Buendia tan vỡ một phần cũng chính vì thiếu một bàn tay như Ucsula chăm sóc khi bà đã về già và mù lòa. Hơn ai hết, Ucsula là người hiểu rõ về hậu quả của tội loạn luân, cũng chính vì điều này đã đẩy bà vào cảnh ngộ trớ trêu, luôn sống vô thức với những ám ảnh quá khứ.

Bà cố sống để căn dặn con cháu về cái nguy cơ đáng sợ về đứa con có cái đuôi lợn. Nhưng rồi không trốn thoát khỏi mặc cảm và bị cuốn sâu vào vực thẳm của sự cô đơn. Trong thế giới cô đơn và hoài nhớ ấy những người trong dòng họ Buênđia đã phạm phải tội loạn luân. Như vậy, có thể thấy vì sợ loạn luân nên cố chạy trốn, chạy trốn rồi lại mắc vào đúng tội lỗi đó.

Hình ảnh : “Một đứa con suốt đời mặc quần rộng thùng thình và chết vì bệnh chảy máu khi đã sống một cuộc đời bốn mươi hai tuổi xuân luôn là trai tân, bởi y sinh ra và lớn lên với cái đuôi 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xoắn hình mở nút chai ở cuối có một túm lông” (8,49). Đây chính là sản phẩm của bà cô Ucsula lấy ông chú Hose Accadio Buendia. Đó là tấm gương tày kiếp mà mãi đến già bà vẫn không quên cảnh báo với con cháu hãy mở to mắt mà nhận họ hàng. Dựa vào sơ đồ phả hệ của dòng họ Buenđia, chúng ta có thể nhận thấy hầu như các thế hệ trong dòng họ không thoát khỏi tội loạn luân với những người cận huyết.

Trước khi Ucsula Igoaran lấy Hose Accadio Buendia thì tổ tiên của họ cũng đã phạm phải điều cấm kỵ đó. Chính họ đã dẫm lên vết xe đổ đó. Là người sống gần hết chiều dài của dòng họ, chứng kiến các thế hệ con cháu ra đời, trưởng thành và hủy diệt, bà như sự tổng kết chiêm nghiệm về những thói hư tật xấu của dòng họ. Bà sống để canh chừng, coi sát nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát khỏi vòng xoáy của định mệnh.

“Con cái nhà đến lạ, tất cả đều giống nhau như hệt. Lúc đầu được nuôi dưỡng rất chu đáo, do đó tất cả đều ngoan ngoãn, nết na, hiền lành dường như đến con ruồi cũng không đủ can đảm để giết. Ấy thế mà râu vừa lún phún đã lại hư thân mất nết rồi. Trước quyết định đám cưới của cặp đôi Rebecca và Hose Accadio bà đã phản đối kịch liệt, và xem như họ đã chết.

Nhà văn Marquez xây dựng tình huống, ngôi nhà hạnh phúc của cặp đôi ngay cạnh nghĩa trang cũng để ám chỉ họ sống đó nhưng đã chết từ lâu rồi. Người phụ nữ đã cố sống đến 6 đời và không ít lần bà than phiền về cố máy thời gian quay vòng “Thời gian như thể quay tròn hay sao ấy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ