đặt vấn đề điều đình mở cho địch lối rút trong danh dự. Lối ứng xử này tiếp tục được thực hiện trong triều nhà Trần khi ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông hay của Lê Lợi và Nguyễn Trãi sau khi đánh tan 10 vạn quân Minh tại Chi Lăng. Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427), nhà ngoại giao Nguyễn Trãi đã tích cực thực hiện việc “đánh vào lòng địch” với hai hình thức chủ yếu: “dụ hàng các tướng lĩnh, binh sĩ địch và ngụy quân ở các thành. Thực hiện hòa đàm, khi thì để hòa tạm thời với địch để bảo toàn lực lượng, khi ưu thế đã nghiêng về nghĩa quân thì dùng lý lẽ để buộc địch chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước” [3, tr.Những bức thư của Nguyễn Trãi gửi cho quân địch dù cách viết khác nhau nhưng chung một điều cơ bản là thư nào cũng sáng ngời chính nghĩa của dân tộc và tràn đầy tình yêu nước nồng nàn.
Từ trong thư toát lên một tinh thần tự hào dân tộc, một khí thế chiến đấu kiên cường để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, một sức mạnh hùng biện áp đảo địch, một tấm gương nhân ái tuyệt vời thu phục lòng người, lôi cuốn người đi theo lẽ phải và chính nghĩa. Thư nào 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ông cũng mở ra những lối thoát cho địch, ông nêu rõ chính sách khoan hồng, không giết kẻ đầu hàng và thái độ đối xử tử tế, âncần của quân dân ta với tù binh.Có thể thấy hòa bình, hòa hiếu là nét đặc sắc của nền ngoại giao truyền thống.Dù luôn đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng nhân dân ta luôn giàu lòng nhân ái, trọng đạo lý, nghĩa tình, không gây hận thù, kết thúc chiến tranh vẫn muốn “sửa hòa hiếu cho hai nước tắt muôn đời chiến tranh”. Như vậy nền ngoại giao Việt Nam truyền thống mang đặc điểm coi trọng hòa hiếu mềm dẻo trong ứng xử nhưng vẫn kiên định mục tiêu vì độc lập tự chủ của dân tộc.Phong cách của nhà ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng toát lên điều này. Từ truyền thống hòa hiếu, Người phát triển thành tư tưởng ngoại giao hòa bình; từ truyền thống "trong xưng đế ngoài xưng vương", Người phát triển thành tư tưởng "dĩ bất biến, ứng vạn biến"; từ truyền thông nhân văn, Người phát triển thành tư tưởng ngoại giao chính nghĩa nhân đạo.
Như vậy, cội nguồn phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh một phần mang dấu ấn của truyền thống ngoại giao dân tộc.2 Ảnh hưởng từ văn hóa thế giới Hồ Chí Minh là con người kết hợp hài hòa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Từ nhỏ Người đã hấp thụ một nền Quốc học và Hán học khá vững vàng. Khi ra nước ngoài, Người có thể viết văn Anh và văn Pháp sắc sảo như một nhà báo phương Tây, nhưng khi có nhu cầu tự bạch thì Người làm thơ bằng chữ Hán. Đó là kết quả của một đời không ngừng học tập và tiếp thu văn hóa nhân loại.
Tinh thần học hỏi của người luôn xuất phát từ bản lĩnh giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, trên cơ sở đó tiếp thu có chọn lọc cái hay của người, làm phong phú vốn văn hóa của mình mà vẫn giữ được tinh thần thuần túy Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc sinh trưởng trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ là một nhà nho cấp tiến. Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã sớm tiếp thu tư tưởng của nho giáo. Nho giáo là một hệ thống tư tưởng đạo đức và luân lý, là chuẩn mực định hướng nhân cách con người.Điểm nổi bật của Nho giáo đó là 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triết lý hành động, tư tưởng nhập thế hành đạo giúp đời.
Đó là tư tưởng về một xã hội bình trị, tức là một xã hội an ninh, hòa mục, một thế giới đại đồng; là triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc. Nho giáo chủ trương gốc của thiên hạ ở nước, gốc của nước ở nhà, gốc của nhà ở mỗi người.Mỗi người nỗ lực tu dưỡng đạo đức thì nhà sẽ êm ấm, từ đó đất nước sẽ bình trị.Đất nước bình trị không chỉ nói về mặt chính trị mà nói cả về mặt văn hóa xã hội.Tinh thần tu thân trong nho giáo này thể hiện rất rõ trong lối sống hàng ngày của Người, từ lúc cách mạng chưa thành công cho tới cả khi Bác trở thành nguyên thủ quốc gia.Có lẽ nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới kính trọng Người từ chính cái ý thức tu thân này, và rộng hơn là kính trọng nhân cách chính trị của Bác. Một ảnh hưởng lớn của Nho giáo trong Hồ Chí Minh đó là ý thức kết hợp giữa đạo đức và chính trị. Khổng Tử chủ trương cải tạo xã hội bằng đạo đức và coi đạo là con đường đúng đắn để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp.
Nói đến đạo là nói đến nhân và nghĩa.Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung, mọi đức khác đều từ nhân mà ra, cũng như muôn vật trên trời dưới đất đều do âm dương nhu cương mà ra. Nhân cao hơn các đức khác, người có nhân là người có cung, khoan, tín, mẫn, huệ.Cung là khiêm tốn, biết tôn trọng người và tôn trọng công việc không tỏ ra coi thường người khác, không kiêu ngạo.Khoan là biết rộng, tín là nói sao làm vậy.Mẫn là nhanh nhẹn không lề mề, ỷ lại. Và theo Khổng Tử, đó là đức mục của người cầm quyền trong quan hệ với dân, làm được năm điều đó dân sẽ tin, dễ sai khiến. Nhân như vậy phải đòi hỏi xuất phát từ lòng thương người, từ sự tôn trọng của con người mà làm việc có hiệu quả.Ngoài ra nhân còn bao gồm các đức là lễ, nghĩa, trí, tín.Như vậy đức nhân trong nho giáo không chỉ là thương người mà thực chất là đạo làm người.Nhân bao gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức nên một người có tiêu chuẩn khác mà không có nhân thì không gọi là người có đạo đức được.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồ Chí Minh đã khai thác lựa chọn những yếu tố tích cực của Nho giáo phục vụ cho công cuộc cách mạng của dân tộc, ẩn trong quan điểm về chính trị của Người là tư tưởng về đạo đức. Có lẽ trên thế giới cũng ít có một nhà chính trị nào lại quan tâm đến vấn đề đạo đức như Hồ Chí Minh, bởi một điều đơn giản là mối quan hệ giữa chính trị và đạo đức rất khó dung hòa do nói đến chính trị nghĩa là nói đến quyền uy. Tuy nhiên, ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy sự hòa hợp giữa chính trị và đạo đức trong con người Hồ Chí Minh. Phải chăng có được điều này là do ảnh hưởng của những tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử cũng như từ nền văn hóa dân tộc.
Phật giáo vào Việt Nam rất sớm, và có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống con người Việt Nam. Ngay cả khi Nho giáo trở thành quốc giáo thì Phật giáo vẫn ảnh hưởng rất lớn, từ tư tưởng, văn hóa, phong tục tập quán đến hành động ứng xử trong lối sống của người Việt. Phật giáo mang tư tưởng từ bi bác ái, cứu nạn cứu khổ với tình yêu thương tới cả thiên nhiên vạn vật.Bên cạnh đó Phật giáo mang tư tưởng hướng thiện, hướng con người tu thân có đạo đức, có lối sống trong sạch. Phật giáo còn chứa đựng triết lý bình đẳng, bác ái, đề cao lao động, chống lười biếng.
Phật giáo vào Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm đã hình thành nên thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, chủ trương gắn bó với đời sống nhân dân, tham gia vào cộng đồng, cùng nhân dân đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh là người thấm nhuần hơn ai hết tinh thần đó. Người gắn bó và gần gũi với nhân dân, hiếm có một vị lãnh tụ nào lại gần gũi nhân dân như thế, Người vui cùng niềm vui của nhân dân, trăn trở canh cánh cùng nỗi lo của đồng bào mình. Và suốt cuộc đời Người cũng là hi sinh tất thảy chỉ vì "đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
Ngoài ra còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác của các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh.Cũng như sau này, khi đã trở thành người Macxit, Người vẫn tìm hiểu 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thêm chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và thấy trong đó những điều phù hợp với hoàn cảnh nước mình. Bên cạnh thấm nhuần tư tưởng phương Đông, Người còn hấp thụ nhiều tư tưởng phương Tây.Ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Đông Ba rồi vào trường quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã làm quen với nền văn hóa Pháp.Đặc biệt Người rất ham mê môn lịch sử, và say sưa tìm hiểu cuộc đại cách mạng Pháp 1789. Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như tinh thần pháp luật của Môngtexkiơ, khế ước xã hội của Rutxo.Tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng của Người. Hồ Chí Minh hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn, sinh hoạt khoa học ở câu lạc bộ Faubourg, trong sinh hoạt chính trị của Đảng xã hội Pháp.
Như vậy nhờ sự thông minh, óc quan sát, ham học hỏi và được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã biết làm giàu trí tuệ mình bằng văn hóa Đông và Tây, từ tầm cao tri thức của nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển. Ảnh hưởng quan trọng tới Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hấp thụ và chuyển hóa được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Triết học giúp Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan, phương pháp biện chứng, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, thấy được những quy luật vận động phát triển của thế giới và xã hội loài người.