Chương 1. Quan hệ Việt Nam - Australia trước năm 2000 Chương 2. Những thành tựu nổi bật trong Quan hệ Việt Nam - Australia từ 2000 đến 2010 Chương 3. Thành tựu và triển vọng quan hệ Việt Nam - Australia từ sau 2010 đến nay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: QUAN HỆ VIỆT NAM - AUSTRALIA TRƢỚC NĂM 2000 1.
Vài nét về đất nƣớc, con ngƣời Australia Australia nằm ở cực Nam Thái Bình Dương, là một lục địa đảo nằm tách biệt với các châu lục còn lại của thế giới. Vì có vị trí đặc biệt, Australia không chịu sự tác động từ bên ngoài cho đến năm 1616, khi thủy thủ Hà Lan Dirk Hartog phát hiện ra châu Úc. Không chỉ có nền văn hóa riêng biệt, Australia còn hầu như không có mối liên hệ với các quốc gia khác, kể cả khu vực châu Á-Thái Bình Dương cận kề, trong một thời gian khá dài. Các nhà sử học Australia dùng cụm từ "nền chuyên chế của khoảng cách" để miêu tả về đất nước mình.
Người Anh đến định cư tại Australia từ năm 1788, mang theo ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tôn giáo của mình đến vùng đất lạ. Australia dần trở thành thuộc địa di dân của Anh, bởi vậy chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ mẫu quốc. Tuy nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xã hội Australia mang nhiều tính chất và đặc điểm của một xã hội phương Tây. Về địa lý, Australia có diện tích hơn 7,6 triệu km vuông (lớn thứ 6 thế giới về tổng diện tích) với đường bờ biển trên 34 nghìn km (chưa tính đến các đảo ngoài khơi).
Quốc gia này trải dài khoảng 3,7 nghìn km từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam và trải rộng khoảng 4 nghìn km từ Đông sang Tây. Theo số liệu của tổ chức tài chính quốc tế The World Bank, dân số Australia đến năm 2013 là trên 23 triệu người, trong đó 2/3 người dân sống tập trung tại các thành phố lớn và khu vực duyên hải. Australia là một trong những nước có mật độ dân cư thấp nhất thế giới và đặc biệt có rất đông dân nhập cư. Lúc mới đặt chân đến đây, người phương Tây luôn cảm thấy lo sợ vì thiếu khả năng phòng thủ.
Thực tế là trong nửa sau thế kỷ XIX, cộng đồng người da trắng tại Australia luôn xảy ra xung đột với những người nhập cư (phần lớn là người châu Á và người da đen từ các đảo nam Thái Bình Dương) đến tìm vàng. Lo sợ bị người châu Á xâm nhập và bị các nước Nga, Pháp, Đức dòm ngó, Australia thành lập liên bang vào năm 1901. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Australia đi theo mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa (TBCN) của phương Tây, điều này được thể hiện trong mọi mặt từ kinh tế, văn hóa đến chính trị. Về thể chế chính trị và văn hóa, Australia theo chế độ quân chủ lập hiến, đa đảng.
Australia là thành viên khối Liên Hiệp Anh, Nữ hoàng Anh Elizabeth II, nữ hoàng của cả Australia, là người đứng đầu nhà nước. Đại diện của nữ hoàng tại Australia là toàn quyền (do nữ hoàng chỉ định), tại mỗi bang là thống đốc. Theo Hiến pháp Australia từ năm 1901, Hạ viện và Thượng viện là cơ quan lập pháp, được bầu lên trong ba năm và có quyền hạn ngang nhau. Thủ lĩnh đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện sẽ là thủ tướng và có quyền chỉ định nội các.
Tổng tuyển cử được tổ chức ít nhất ba năm một lần. Các cuộc bầu cử nghị viện và chính phủ (nhất là từ sau năm 1945) đều cho thấy sự lấn át của hai đảng chủ chốt là Công đảng (Labour Party) và Liên đảng Tự do - Quốc gia (Liberal - National Party). Các đảng này có đường lối chính sách đối nội, đối ngoại khá tương đồng về mục tiêu và bản chất, chỉ khác nhau chút ít về biện pháp hay mức độ. Thủ tướng đương nhiệm của Australia là Malcolm Turnbull, nhậm chức ngày 15/9/2015.
Về mặt kinh tế, thời kỳ mới lập quốc, Australia phát triển khá chậm. Phải đến năm 1851 khi nhiều mỏ vàng được phát hiện tại đây, nền kinh tế Australia dần đi vào ổn định phát triển. Từ cuối thế kỷ XX, Australia bắt đầu xây dựng nền kinh tế hỗn hợp theo mô hình phương Tây. Quá trình này gặp nhiều thuận lợi bởi Australia vốn không bị kìm hãm bởi chế độ phong kiến hay quan hệ tiền tư bản, lại được kế thừa thành tựu của nền TBCN Anh.
Chế độ TBCN ở Australia là chế độ cạnh tranh tự do: các công ty tư nhân đóng vai trò chủ đạo, chính phủ nắm một số ngành quan trọng và quản lý kinh tế bằng chính sách tiền tệ thuế khóa. Từ sau Chiến tranh Thế giới II, Australia chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu khoáng sản, năng lượng và cả nông sản. Các ngành khai thác và công nghiệp chế tạo đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế của lục địa đảo này. Từ khi hình thành liên bang vào năm 1901, Australia nhìn chung phát triển ổn định.
Nền kinh tế TBCN có trình độ khá cao, hệ thống chính trị mang tính dân chủ phương Tây điển hình. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về đối ngoại, lịch sử cho thấy Australia chịu ảnh hưởng lớn từ các nước phương Tây, đặc biệt là Anh. Quốc gia này đi theo chế độ TBCN và hướng chính sách đối ngoại đến mục tiêu gìn giữ, phát triển mối quan hệ với các nước tư bản phương Tây. Cả hai đảng cầm quyền ở Australia đều có đường lối đối ngoại như trên.
Nhìn chung, chính sách đối ngoại của Australia kế tiếp chính sách đối nội (yếu tố bên trong) nhưng lại chịu tác động lớn hơn bởi các yếu tố bên ngoài (môi trường khu vực, môi trường quốc tế, thay đổi về tương quan lực lượng, những thách thức mới, khó khăn nảy sinh. Việc chịu ảnh hưởng bởi các nước tư bản phương Tây (đặc biệt là Anh, Mỹ) về đường lối, chính sách ngoại giao tất yếu chi phối mối quan hệ giữa Australia với Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Chính sách đối ngoại của lục địa đảo này luôn đặt các nhóm lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Nhóm lợi ích thứ nhất là lợi ích an ninh - quốc phòng, chính là việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và nền chính trị độc lập của Australia.
Lợi ích này được bảo đảm thông qua việc các quốc gia láng giềng duy trì nền hòa bình, ổn định và có thiện chí với Australia. Khu vực lợi ích an ninh của Australia bao gồm "khu vực có lợi ích quân sự trực tiếp" (lãnh thổ Australia và các vùng biển lân cận, Indonesia, Papua New Guinea, New Zealand và các đảo quốc tây nam Thái Bình Dương) và khu vực "lợi ích chiến lược căn bản" (đông Ấn Độ Dương, phần còn lại của Đông Nam Á bao gồm Việt Nam và tây nam Thái Bình Dương). Nhóm thứ hai là lợi ích kinh tế - thương mại. Australia là nước TBCN, sản xuất hàng hóa để xuất khẩu.
Australia luôn hướng tới một cơ cấu thương mại quốc tế tự do, ổn định, hợp lý để hàng hóa nước mình có nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trường quốc tế. Thứ ba là nhóm lợi ích về vai trò, vị thế quốc tế. Australia mong muốn có tiếng nói trong việc tham gia giải quyết các vấn đề thế giới như chính trị, an ninh, quân sự, môi trường, sức khỏe. Hai nhóm lợi ích đầu quan trọng hơn, đặc biệt là lợi ích an ninh - quốc phòng, là những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại tổng thể của Australia.
Mối 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ Việt Nam - Australia không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các yếu tố này. Quan hệ giữa Australia với các cường quốc phương Tây và với các nước trong khu vực cũng có sự khác biệt. Trong quan hệ với Anh, vì từng là thuộc địa di dân suốt thời gian dài, Australia coi Anh là mẫu quốc bảo trợ cho mình. Tuy nhiên mối quan hệ này phai nhạt dần từ sau Chiến tranh Thế giới II, Australia không còn coi Anh là nước quan trọng hàng đầu trong quan hệ quân sự và quan hệ thương mại.
Cuộc trưng cầu dân ý hồi năm 1999 cho thấy khá đông người dân Australia muốn đất nước mình trở thành nước cộng hòa (tỉ lệ tán thành là 46%) thay vì theo chế độ quân chủ và bị ràng buộc về Hiến pháp với Anh. Việc Australia mất dần niềm tin vào Anh bắt nguồn từ sự kiện hàng loạt thuộc địa của Anh bị Nhật chiếm trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (một phần của Chiến tranh Thế giới II) vào cuối thập niên 30, đầu thập niên 40 của thế kỷ XX. Chứng kiến cảnh Mỹ sau đó giải phóng những vùng đất bị Nhật chiếm, Australia có ý định tìm nước bảo trợ mới. Tuy vậy, Australia không phủ nhận mối quan hệ với Anh mà vẫn coi mình là đại diện cho Khối thịnh vượng Anh ở châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời duy trì sự hỗ trợ quân sự cho Anh tại các nước châu Á.
Cũng bắt đầu từ đây, quan hệ giữa Australia và Mỹ ngày càng được tăng cường. Năm 1951, Australia và New Zealand cùng ký với Mỹ Hiệp ước Phòng thủ Thái Bình Dương (ANZUS). Năm 1954, Australia ký tiếp Hiệp ước Manila, là nền tảng cho việc thành lập Khối hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) bao gồm Mỹ, Anh, Pháp, Pakistan, New Zealand, Australia, Thái Lan và Philippines. Kể từ đây, Australia coi quan hệ với Mỹ là mối quan hệ trọng yếu, Mỹ chính thức trở thành nhà bảo trợ cho Australia.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, chính phủ Australia cho phép Mỹ đặt các căn cứ quân sự tại lãnh thổ nước mình đồng thời cho quân sang Việt Nam tham chiến cùng Mỹ. Việc Australia duy trì mối quan hệ phụ thuộc vào các cường quốc phương Tây chính là biểu hiện của mục tiêu bảo đảm lợi ích an ninh - quốc phòng. Sự lệ thuộc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong quan hệ ngoại giao, cùng với việc thay đổi nước bảo hộ từ Anh sang Mỹ của Australia cũng tác động khá lớn đến chính sách ngoại giao của Australia với các nước thuộc châu Á - Thái Bình Dương. Những yếu tố quyết định chính sách của Australia đối với các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước Đông Nam Á (vì nằm gần Australia nhất), là lợi ích kinh tế và vấn đề an ninh - phòng thủ.
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực hết sức rộng lớn, giàu tiềm năng kinh tế, lại có nhiều tuyến giao thông huyết mạch của thế giới. Australia và các nước Đông Nam Á cùng chia sẻ nhiều lợi ích mà vị trí địa lý của mình mang lại.