CHƯƠNG I: TỔNG QUAN QUAN HỆ NHẬT BẢN - ẤN ĐỘ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 1991 ĐẾN NĂM 1999 1.1 Hoàn cảnh quốc tế, tình hình của Nhật Bản và tình hình ở Ấn Độ 1.1 Hoàn cảnh chung Năm 1991 tình hình quốc tế đã có những biến động to lớn tác động mạnh đến chính sách đối nội cũng như đối ngoại của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đó chính là sự tan rã của nhà nước Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã chính thức kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh và giai đoạn chạy đua vũ trang giữa Liên bang Xô Viết và Mỹ. Tình hình thế giới tạo nên những biến đổi sâu sắc. Có nước lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn và ngược lại, nhiều nước lại tìm thấy cơ hội để khẳng định mình.
Sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời. Là lực lượng duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường, mưu đồ giữ vai trò bá chủ chi phối thế giới. Nhưng mặt khác, tuy là cực duy nhất còn lại nhưng tình hình thế giới lại không phải là thế giới một cực. Với tình hình như vậy, các quốc gia có tiềm lực kinh tế và chính trị đều tìm cách vươn lên nhằm trở thành một cực hoặc tạo thành một thế giới đa cực, và Nhật Bản là một trong những nước đó.
Bên cạnh đó, tuy hòa bình thế giới đã được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi rõ rệt nhưng hòa bình ở nhiều khu vực lại bị đe dọa. Sự bất ổn của thế giới trong giai đoạn này vẫn chưa chấm dứt khi mà các cuộc xung đột không giảm bớt, mà còn bùng nổ với quy mô ngày càng khốc liệt và nguy hiểm hơn. Thậm chí ở nhiều nơi, xung đột quân sự, nội chiến diễn ra ác liệt. Không ít thế lực đã tìm mọi cách để sử dụng những thành quả của văn minh, tiến bộ khoa học kỹ thuật mà chống lại nhân loại.
11 Những xung đột dai dẳng kéo dài ở Chesnia (Nga), các nước Trung Đông, các nước Châu Phi, một số nước ở Nam Á, Đông Nam Á. là minh chứng cho tình hình nghiêm trọng của riêng một số nước và trong khu vực lúc bấy giờ. Các cuộc xung đột với quy mô lớn có sự tham gia của nhiều nước lớn như: chiến tranh Vùng Vịnh, Afganistan, Iraq. Nguy hại hơn là sự gia tăng của chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tiếp theo là các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ.
vốn bị che đậy dưới thời chiến tranh lạnh, nay bộc lộ thành xung đột gay gắt. Phần lớn những mâu thuẫn này đều có căn nguyên lịch sử nên việc giải quyết là không thể nhanh chóng dễ dàng. Đáng chú ý nhất là sự bất ổn định củ hệ thống tài chính tiền tệ mà khủng hoảng lĩnh vực này ở Đông Á năm 1997 là một minh chứng rõ ràng nhất. Hậu quả của cuộc khủng hoảng không chỉ tàn phá nền kinh tế nhiều nước mà còn gây chấn động cả một châu lục và cả thế giới.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Hùng [10], trong bối cảnh chung đó nổi lên một số đặc điểm phát triển cơ bản của thế giới và khu vực như sau: Xu thế phát triển lấy kinh tế trọng điểm. Bài học của thời kỳ chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương pháp quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thất hoặc thất bại như Mỹ - Liên Xô. Trong khi đó, phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu được nhiều tiến bộ, kết quả như các nước Đức, Nhật. Rõ ràng kết quả của Chiến tranh lạnh đã cho ta thấy hiển nhiên rằng trong quan hệ quốc tế tiềm lực kinh tế đã trở nên có một ý nghĩa lớn hơn nhiều so với tiềm lực quân sự.
Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia được quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, mà chủ yếu là thực lực kinh tế và khoa học - kỹ thuật. Vì vậy, sau chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế. Trong thời điểm hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong đọ sức giữa các cường quốc. 12 Xu thế hòa dịu trên quy mô thế giới, hòa bình thế giới được củng cố.
Chiến tranh lạnh kết thúc không nhất thiết có nghĩa là cuộc sống hòa bình đã đến. Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song hòa bình ở nhiều khu vực vẫn bị đe dọa, thậm chí có nơi xung đột diễn ra nghiêm trọng và chiều hướng ngày càng rối loạn. Sau khi Trật tự hai cực tan rã, hiện tượng đáng chú ý nhất là chủ nghĩa dân tộc nổi lên ở khắp nơi. Sự phức tạp của vấn đề dân tộc còn do trước đây các nước thực dân phương Tây khi phân chia thuộc địa, khu vực ảnh hưởng không tính đến biên giới tự nhiên cùng tình hình phân bố dân cư các chủng tộc, dân tộc, mà hoạch định biên giới theo sức mạnh và sự thỏa hiệp giữa chúng bằng đường kẻ thẳng tắp.
Nhiều nước đã sống trong sự chênh nhau giữa các biên giới dân tộc và biên giới chính trị của họ. Sự phục hồi và gia tăng hoạt động của các tôn giáo, nhất là gắn kết với các phong trào chính trị - xã hội, phong trào dân tộc càng làm phức tạp thêm tình hình ở nhiều nước. Các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định và cân bằng hướng về lâu dài. Đây là đặc điểm chủ yếu và nổi bật của quan hệ giữa các nước lớn trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.
Sự điều chỉnh ấy rất là to lớn và sâu sắc. Xuất phát từ lợi ích chiến lược căn bản của mình, các cường quốc tiến hành điều chỉnh lại chính sách đối ngoại để tìm chỗ đứng tốt nhất, xây dựng khuôn khổ quan hệ mới ổn định lâu dài, xác lập các điều kiện quốc tế có lợi hơn, mở rộng hệ thống an ninh quốc gia, tạo ra không khí quốc tế để xây dựng kinh tế nước mình như mục tiêu chủ yếu trong quá trình điều chỉnh. Trước những mâu thuẫn tranh chấp với nhau, các nước lớn đều tìm kiếm các biện pháp với xu hướng thông qua đối thoại, thỏa hiệp và tránh xung đột. Mối quan hệ giữa các cường quốc và những điều chỉnh của họ rõ ràng có ảnh hưởng to lớn đối với đời sống chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế, một nhân tố hàng đầu trong sự hình thành Trật tự thế giới mới.
Xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa và các tổ chức liên minh quốc tế. Xu thế quốc tế hóa – khu vực hóa tăng mạnh, hình thành nhiều khối liên kết hợp tác phát triển như: 13 EU, NAFTA, APEC, ASEAN đã khiến cho các hoạt động kinh tế của nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là ở Đông Á, bao gồm cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á diễn ra hết sức sôi động. Bên cạnh xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới, xu thế mở cửa hợp tác đồng thời cũng có xu hướng bảo hộ mậu dịch. Toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế là đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới với sự chuyển đổi từ GATT sang WTO đã khiến cho tự do thương mại và đầu tư càng có điều kiện phát triển mạnh.
Toàn cầu hóa diễn ra với tốc độ nhanh chóng và quy mô rộng lớn, thể hiện ở sự tăng lên nhanh chóng các mối liên hệ quốc tế không chỉ riêng ở lĩnh vực kinh tế mà còn cả chính trị, văn hóa …Tính quốc tế hóa cao còn thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng mạng lưới thị trường và sản xuất quốc tế. Các nước Đông Á đã trở thành thị trường mở cửa cho Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, và Nhật Bản cũng phải mở cửa cho hàng hóa các nước tràn vào thị trường của mình. Chính những yếu tố này đã tạo nên xu thế ngày càng ra tăng hợp tác và cạnh tranh quyết liệt đòi hỏi Nhật Bản phải điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường các quan hệ liên kết, hợp tác với các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để cạnh tranh lại với Mỹ và Tây Âu. Cùng với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa là sự ra đời của các tổ chức quốc tế.
Có lẽ chưa lúc nào mà hoạt động gia tăng sự liên kết hợp tác của các khu vực và tiểu khu vực lại lớn mạnh như thế này. Có thể nói các tổ chức quốc tế quan trọng hàng đầu là Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chỉ riêng từ năm 1995 đến năm 2000 có 90 Hiệp định Thương mại khu vực được đăng kí với WTO [27, 34]. Và kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc đã, Liên Hợp Quốc đóng vai trò hữu hiệu trong việc giải quyết các vấn đề về an ninh quốc tế.
Nhìn chung, các tổ chức quốc tế rất đa dạng, chức năng không chỉ dừng lại ở việc giải quyết các cuộc xung đột quốc tế và khủng hoảng mà hơn thế nữa, vai trò của nó được mở rộng đáng kể. 14 Nhìn chung, tình hình quốc tế từ những năm 90 biến đổi hết sức mạnh mẽ. Nó tác động và gây ảnh hưởng đến hầu hết tất cả các quốc gia ở tất cả mọi mặt. Chính vì thế, sự phối hợp, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới đã trở thành nhu cầu cấp thiết của các quốc gia trên thế giới.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á là sự đe dọa cho cả Nhật Bản lẫn Ấn Độ. Chính nhân tố này làm cho hai nước Nhật Bản và Ấn Độ xích lại gần nhau hơn.2 Tình hình của Nhật Bản Xét về vị thế trên trường quốc tế, cục diện sau chiến tranh lạnh đã đem lại cho Nhật Bản cả những lợi thế và những bất lợi. Ngoài ra, sự biến đổi mạnh mẽ của tình hình thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi để Nhật Bản mở rộng phạm vi hoạt động và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.