MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trí tuệ là một trong những lĩnh vực đã đƣợc các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu từ lâu. Trí tuệ của một ngƣời đƣợc thể hiện trên rất nhiều linh vực khác trong cuộc sống và học tập. Trí tuệ không phải là những đặc điểm bề ngoài có thể quan sát đƣợc một cách trực tiếp, khách quan nhƣ chiều cao, cân nặng của một ngƣời, mà là một thuộc tính tâm lý cá nhân đƣợc đo đạc trên cơ sở những thông tin.
Cũng chính vì lẽ đó để hiểu và nhận dạng đúng về chỉ số trí tuệ của một cá nhân từ đó có hƣớng đào tạo, bồi dƣỡng có hiệu quả là một vấn đề có ý nghĩa đối với các bậc phụ huynh, gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Để đánh giá một học sinh có Trí tuệ cao hay thấp thƣờng dựa vào điểm số học tập để đánh giá. Một số quan điểm cho rằng Trí tuệ và Điểm số học tập có mối tƣơng quan với nhau. Đánh giá trí tuệ của các em có thể dựa vào điểm số học tập để đánh giá.
Một em học sinh có trí tuệ cao thì không thể có điểm số học tập kém, và ngƣợc lại một học sinh có trí tuệ thấp không thể có điểm số học tập tốt. Bên cạnh đó cũng có khá nhiều ý kiến phản đối việc dùng điểm số học tập làm căn cứ đề nhận dạng Trí tuệ vì nó thiếu chính xác và thiếu hiệu quả. Trí tuệ của con ngƣời đƣợc thể hiện trong nhiều lĩnh vực nhƣ Ngôn ngữ, Vận động, Toán học, Thiên nhiên, Âm nhạc. nhƣng các môn học ở trƣờng mà cụ thể hơn là điểm số học tập ở trƣờng không đánh giá hết đƣợc trí tuệ của học sinh.
Nghiên cứu trƣớc đó của Hollan và Richard (1965) cho rằng khi lấy tiêu chuẩn là điểm học tập trên trung bình, chúng ta đã bỏ sót nhiều tài năng sáng tạo đƣợc xác nhận trong thực tế hàng ngày. Bên cạnh đó tác giả Terman và Getzel cũng đã phát hiện thấy giữa điểm số học tập và tính sáng tạo có sự tƣơng quan không cao (43%). Thƣờng những học sinh sáng tạo không nhận đƣợc điểm số học tập cao; một trong những lý do của điều này là hầu hết giáo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên không mấy thích thú đối với tính cách độc đáo, hay thích giữ ý kiến riêng của họ. Kết quả của học tập không chỉ liên quan tới Trí tuệ mà còn phụ thuộc vào hứng thú, động cơ học tập; môi trƣờng giáo dục của nhà trƣờng; và điều kiện gia đình của từng em tác động.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng trí tuệ của các em học sinh trung học cơ sở, mối tƣơng quan giữa trí tuệ với điểm số học tập và một vài yếu tố ảnh hƣởng đến trí tuệ của các em học sinh THCS chúng tôi tiến hành đề tài “Mối tương quan giữa trí tuệ với điểm số học tập của học sinh trung học cơ sở”. Mục đích nghiên cứu Khảo sát điểm số học tập và chỉ số trí tuệ của học sinh lớp 7 trƣờng THCS Đồng Xuân. Trên cơ sở kết quả thu đƣợc xác định mối tƣơng quan giữa chỉ số trí tuệ với điểm số học tập của học sinh. Đề xuất, kiến nghị nhà trƣờng có thức giáo dục phù hợp với chỉ số trí tuệ của các em học sinh giúp quá trình học tập đạt kết quả cao.
Đối tƣợng nghiên cứu Chỉ số trí tuệ của học sinh lớp 7, điểm số học tập và mối tƣơng quan giữa điểm số học tập với chỉ số trí tuệ. Khách thể nghiên cứu Học sinh lớp 7 trƣờng THCS Đồng Xuân 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lí luận nghiên cứu về trí tuệ và mối tƣơng quan giữa trí tuệ với điểm số học tập - Khảo sát chỉ số trí tuệ của học sinh lớp 7 trƣờng THCS Đồng Xuân; - Khảo sát điểm số học các môn học của các học sinh tham gia nhóm nghiên cứu; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phân tích mối tƣơng quan giữa chỉ số IQ và điểm số học tập chung của học sinh; - Phân tích mối tƣơng quan của chỉ số của 4 năng lực cấu thành chỉ số IQ và điểm số học tập của học sinh ở các môn học tƣơng ứng; - Phân tích sự khác nhau giữa chỉ số IQ với giới tính của học sinh, nơi cƣ trú của học sinh và nghề nghiệp của cha mẹ học sinh tham gia nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung nghiên cứu: Trí tuệ và các yếu tố ảnh hƣởng đến trí tuệ của học sinh là một vấn đề rộng, chứa đựng nhiều nội dung.
Ở đề tài này giới hạn nghiên trí tuệ theo cấu trúc trí tuệ của Wechsler gồm 4 thành phần đó là Tƣ duy ngôn ngữ; Tƣ duy tri giác; trí nhớ công việc và tốc độ xử lý. Những yếu tố ảnh hƣởng đến trí tuệ gồm Giới tính; Nơi cƣ trú và nghề nghiệp cha mẹ. Phạm vi khách thể nghiên cứu: Trong đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu trên mẫu chọn học sinh khối 7 trƣờng THCS Đồng Xuân. Phạm vi thời gian nghiên cứu: 08 tháng 7.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu - Phƣơng pháp thống kê toán học - Phƣơng pháp khảo cứu thông tin trong học bạ - Sử dụng bộ công cụ trắc nghiệm WISC IV - Hỏi chuyện lâm sàng - Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Câu hỏi nghiên cứu - Kết quả học tập của học sinh lớp 7 trƣờng THCS Đồng Xuân nhƣ thế nào? Có sự khác biệt về điểm số học tập với yếu tố về giới tính, nơi cƣ trú và nghề nghiệp của cha mẹ hay không? - Chỉ số IQ của học sinh lớp 7 trƣờng THCS Đồng Xuân là bao nhiêu? Có sự khác biệt về chỉ số IQ với yếu tố về giới tính, nơi cƣ trú và nghề nghiệp của cha mẹ hay không? - Chỉ số IQ và điểm số học tập của học sinh lớp 7 THCS Đồng Xuân có mối tƣơng quan với nhau nhƣ thế nào? 9. Giả thuyết nghiên cứu - Chỉ số IQ có mối tƣơng quan với điểm số học tập của học sinh THCS - Chỉ số IQ thành phần càng cao thì điểm số học tập của các môn học đặc thù càng cao; - Không có sự khác biệt về chỉ số IQ và điểm số học tập giữa nam và nữ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trí tuệ không còn là vấn đề mới đối với chúng ta, việc nghiên cứu Trí tuệ là một trong những lĩnh vựa đƣợc nghiên cứu nhiều và sớm trong tâm lý học.
Việc vận dụng những cơ sở lý luận của trí tuệ vào các hoạt động của con ngƣời nhƣ dạy học, khám phá tiềm năng .đang đƣợc các nhà khoa học hết sức quan tâm. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về trí tuệ 1. Các thuyết về trí tuệ - Tiếp cận vấn đề trí tuệ theo thuyết liên tƣởng Tiếp cận liên tƣởng là trƣờng phái tâm lý học Anh, giải thích động thái các quá trình tâm lý theo nguyên tắc kết hợp, liên tƣởng các hình ảnh tri giác. Đại biểu của hƣớng tiếp cận này là các nhà triết học, tâm lý học Anh: Đ.
Các nhà liên tƣởng cho rằng trí tuệ là quá trình thay đổi tự do tập hợp các hình ảnh, là sự liên tƣởng các biểu tƣợng. Mối quan tâm chủ yếu của các nhà liên tƣởng là tốc độ và mức độ liên kết các hình ảnh, các biểu tƣợng đã có, tức là quan tâm chủ yếu tới vấn đề tái tạo các mối liên tƣởng. Theo họ, có bốn loại liên tƣởng: liên tƣởng giống nhau, liên tƣởng tƣơng phản, liên tƣởng gần nhau về không gian và thời gian, liên tƣởng nhân quả. Liên tƣởng nhân quả có vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình trí tuệ.
Sự phát triển trí tuệ là quá trình tích lũy các mối liên tƣởng. Sự khác biệt về trình độ trí tuệ đƣợc quy về số lƣợng các mối liên tƣởng, về tốc độ hoạt hóa các liên tƣởng đó. Nhƣ vậy, sự phát triển trí tuệ chỉ là sự vận động bên trong của các hình ảnh cảm tính mà thôi. Vì thế, thuyết liên tƣởng mới chỉ nêu ra nguyên tắc giải 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thích máy móc về trí tuệ mà chƣa đề cập đến bản chất, cấu trúc, vai trò của trí tuệ trong hoạt động của con ngƣời.
- Tiếp cận hành động tinh thần Tiếp cận hành động tinh thần là đặc trƣng của trƣờng phái tâm lý học Vuxbua - một trƣờng phái tâm lý học Đức, theo truyền thống triết học duy lý. Đại biểu của trƣờng phái này là các nhà tâm lý hóc Đức: O. Tƣ tƣởng chủ đạo của trƣờng phái Vuxbua là nghiên cứu tƣ duy, trí tuệ thông qua thực nghiệm giải các bài toán tƣ duy. Phƣơng pháp chủ yếu sử dụng trong thực nghiệm là tự quan sát (hầu hết các nghiệm thể tham gia thực nghiệm là các nhà tâm lý chuyên nghiệp.
Họ có nhiệm vụ thƣờng xuyên thông báo về diễn biến quá trình tƣ duy của mình khi giải quyết nhiệm vụ). Bằng thực nghiệm, các nhà tâm lý học Vuxbua đã đi đến những kết luận về bản chất của tƣ duy, trí tuệ. Theo họ, tƣ duy là hành động bên trong của chủ thể nhằm xem xét các mối quan hệ (quan hệ ở đây là tất cả những gì không mang đặc điểm của hình ảnh cảm tính, là tất cả sự tổng hợp phong phú các khái niệm). Việc xem xét các mối quan hệ này độc lập với việc tri giác các thành phần tham gia quan hệ.
Thành thử, quá trình tƣ duy, trí tuệ diễn ra không cần có sự hỗ trợ của các biểu tƣợng cảm tính, rời rạc. Hành động tƣ duy là công việc của "cái tôi", của chủ thể. Nó chịu ảnh hƣởng của nhiệm vụ (bài toán tƣ duy). Nhiệm vụ định hƣớng cho hành động tƣ duy.
Khi chủ thể nhận ra bài toán có nghĩa là đã biến các chỉ dẫn từ bên ngoài thành tự chỉ dẫn trong quá trình giải quyết nhiệm vụ. Tính lựa chọn của tƣ duy bị quy định bởi sự vận động của tự chỉ dẫn. - Tiếp cận hành vi Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lý học thế giới đầu thế kỷ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các hiện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣợng tâm lý ngƣời thời đó.