Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Kinh tế tư nhân và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN và kinh tế tư nhân * Kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Kinh tế thị trường: là giai đoạn cao của kinh tế hàng hóa được quy định bởi thị trường, là sự hoạt động và mở rộng khách quan của quan hệ tiền - hàng và những quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh.trong đó quy luật giá trị là đặc trưng nhất” [70, tr. Về thực chất kinh tế thị trường là nền kinh tế vận động và phát triển tuân theo quy luật thị trường.
Mọi chi phí đầu vào (vốn, TLSX, sức lao động) kết tinh trong sản phẩm hàng hóa và quy định giá trị của nó. Việc sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? đều do thị trường quyết định. Có thể nói rằng, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế, tồn tại khách quan do trình độ của LLSX quyết định, trong đó toàn bộ quá trình từ tổ chức quản lý sản xuất đến phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Lịch sử đã chứng minh rằng mọi quốc gia muốn phát triển được đều phải trải qua trình độ tổ chức kinh tế này.
Ở Việt Nam, trước khi xây dựng nền kinh tế thị trường, chúng ta đã áp dụng máy móc cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong tổ chức và quản lý nền kinh tế, không tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, phủ nhận sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đối lập CNXH với kinh tế thị trường, phủ nhận vai trò của các thành phần kinh tế được coi là phi XHCN để độc tôn kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Điều đó đã làm triệt tiêu động lực của sự phát triển, không phát huy hết nội lực của nền kinh tế, khiến đất nước lâm vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng toàn diện. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực tế là, chúng ta đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng: QHSX phải đi trước mở đường cho LLSX phát triển. Điều đó, dẫn tới một kết quả tất yếu là các QHSX, các thành phần kinh tế tư nhân bị đối xử như là những vật cản cần phải cải tạo và xóa bỏ để đảm bảo cho sự thành công của CNXH.
Điều này trái ngược với quan điểm của C.Ăngghen khi cho rằng: việc xác lập chế độ công hữu về TLSX không thể tùy tiện, bởi vì “bất cứ một sự thay đổi nào của chế độ xã hội, bất cứ một sự cải biến nào về QHSX cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những LLSX mới, không còn phù hợp với các quan hệ sở hữu cũ nữa” [33, tr. Bởi vậy, không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức, cũng như không thể làm cho LLSX hiện có tăng lên ngay lập tức để xây dựng ngay một nền kinh tế công hữu. “Cho nên…chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng TLSX cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu”[33, tr. Quan điểm trên cho thấy, vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX, trước hết là quan hệ sở hữu về TLSX với tư cách là nhân tố quyết định mục đích phát triển của nền sản xuất và bản chất của chế độ kinh tế - xã hội.
Phát triển làm sáng tỏ hơn nữa quan điểm của C.Lênin cho rằng: Đối với một nước có nền kinh tế sản xuất nhỏ cũng hoàn toàn có khả năng tiến lên CNXH, bởi đó là con đường tất yếu của sự phát triển xã hội loài người. Theo Lênin, CNXH là một bước tiến liền ngay sau chế độ độc quyền TBCN của nhà nước. Bởi vì CNTB độc quyền nhà nước là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử, mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là CNXH thì không có một nấc thang ở giữa nào cả” [29, tr. “Nấc thang” mà Lênin nói tới ở đây chính là thời kỳ quá độ, mà ở đó còn tồn tại đan xen giữa những yếu tố cũ và mới, là thời kỳ đấu tranh “ai thắng ai” giữa CNTB và CNXH trên mọi lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể nói thời kỳ quá độ lên CNXH là cả một quá trình lâu dài, ở đó phương thức sản xuất cũ chưa hẳn mất đi và phương thức sản xuất mới đã phát sinh nhưng còn rất non yếu. Do vậy, ở thời kỳ này tồn tại tất yếu nền kinh tế nhiều thành phần, bên cạnh các thành phần kinh tế XHCN còn có các thành phần kinh tế đối lập. Lênin còn cho rằng: “bước quá độ từ CNTB lên CNXH có thể có những hình thức khác nhau, tùy thuộc ở chỗ quan hệ đại tư bản hay nền kinh tế nhỏ chiếm ưu thế trong nước”[29, tr. Vì vậy, Lênin cho rằng: “Ở một nước mà trong đó những người sản xuất tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số nhân khẩu, mà muốn thực hiện cách mạng XHCN thì cần phải trải qua một loạt các biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển”[29, tr.
Đối với những nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu muốn đi lên CNXH tất yếu phải khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường. Vì vậy, trong nền kinh tế có sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu, nhiều thành phần kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Theo Lênin, đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN không có nghĩa là phải bỏ qua tất cả những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới xã hội tư bản, mà “Chúng ta phải lợi dụng CNTB, nhất là bằng cách hướng nó vào con đường CNTB nhà nước, làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và CNXH, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng LLSX lên” [28, tr. Với ý nghĩa ấy, CNTB tư nhân đóng vai trò trợ thủ đắc lực cho CNXH là một sự thật kinh tế không thể chối bỏ được.
Những luận điểm trên đây của C.Ăngghen và Lênin có ý nghĩa to lớn đối với nước ta - một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ của LLSX còn thấp. Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế là điều khách quan và cần thiết, thích ứng với quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Trong điều kiện đó, việc Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế thị trường là tất yếu và thích hợp nhất. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội vào tình hình thực tiễn nước ta, Hồ Chí Minh coi việc phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá độ nhằm xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của CNXH, xây dựng CNXH có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến.
Muốn vậy, chúng ta phải tôn trọng và phát huy tính tích cực của các thành phần kinh tế. Với quan điểm ấy, năm 1953, trong tác phẩm Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại hình kinh tế khác nhau: A - Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung nhân dân) B - Các hợp tác xã (nó là nửa CNXH, và sẽ tiến đến CNXH) C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thợ thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa CNXH) C - Tư bản của tư nhân D - Tư bản của Nhà nước (Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)” [36, tr. Trong năm loại hình kinh tế trên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của kinh tế nhà nước: “loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng CNXH” [36, tr.
Đối với các thành phần kinh tế khác cũng cần được duy trì ở mức độ cần thiết trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, để đảm bảo định hướng XHCN thì kinh tế nhà nước phải giữ vai trò lãnh đạo, dẫn đường cho các thành phần kinh tế khác. Có như vậy thì các nhà tư sản: “Dù cho họ buôn bán to mấy cũng không thể chống lại công ty mậu dịch, không thể cạnh tranh nổi với nền kinh tế quốc doanh” [37, tr. Trên cơ sở đó, chúng ta cần tiến hành từng bước việc cải tạo các thành phần kinh tế TBCN thành CNTB nhà nước bằng cách cho các nhà tư sản hùn vốn với chính phủ, làm cho công tư cùng có lợi.
Theo phương hướng đó thì: “Các nhà tư sản sẽ thấy công tư hợp doanh có lợi, không có hại, dần dần họ thấy nhất định phải tiến lên CNXH” [37, tr. Như vậy, theo quan điểm của C.Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH có 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự tồn tại tất yếu nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường với nhiều hình thức sở hữu khác nhau, chúng vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau để tồn tại và xác lập địa vị kinh tế - xã hội của mình. Những luận điểm nêu trên của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành nền tảng, cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ hơn về mô hình kinh tế tổng quát trong thời ký quá độ lên CNXH. Theo tinh thần ấy, việc thừa nhận và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu.
Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam cũng như xu thế khách quan của thời đại. Bên cạnh những cơ sở lý luận đã nêu ở trên, thì tính tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam còn xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn khách quan sau đây: Kinh tế thị trường là một trình độ tổ chức kinh tế tồn tại khách quan, là thành tựu chung của văn minh nhân loại.