phần Mở đầu và phần Kết luận, luâ ̣n văn gồ m ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyế t 1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh và đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại 1. Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh 1. Đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại 1.2 Mô ̣t số lý thuyế t về ma ̣ch la ̣c 1. Mạch lạc là gì? 1.
Sƣ̣ khác biê ̣t giƣ̃a ma ̣ch la ̣c trong thơ và truyê ̣n ngắ n 1. Vai trò của ma ̣ch la ̣c trong thơ Vi Thùy Linh Chƣơng 2: Cách tổ chức mạch lạc trong thơ Vi Thùy Linh 2. Mạch lạc qua quan hệ thời gian 2. Mạch lạc qua quan hệ không gian 2.3 Tiểu kết Chƣơng 3: Những đóng góp và hạn chế của thơ Vi Thùy Linh 3.
Những hạn chế Phụ lục Mục lục Tài liệu tham khảo 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh và đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại 1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh Vi Thùy Linh, nhà thơ nữ trẻ trên văn đàn Việt Nam hiện nay sinh ngày 4 tháng 4 năm 1980. Vi Thùy Linh đƣợc biết đến nhƣ một hiện tƣợng thơ qua ba tập thơ: “Khát”, “Linh” và “Đồng tử”. Linh thổi vào văn đàn thơ mới một cơn lốc mãnh liệt với khát vọng tình yêu đắm say, cuồng nhiệt. Sinh năm 1980, lớn lên trong gia đình nghệ thuật, ông nội và chú là họa sĩ, bố là đạo diễn, Vi Thùy Linh đƣợc nuôi dƣỡng trong không khí nghệ thuật và là một ngƣời đa cảm từ thủa bé.
Vi Thùy Linh chỉ làm thơ tự do mà từ chối các thể thơ có niêm luật. Cũng là một tiếng thơ lạ, Vi Thùy Linh mới chỉ bắt đầu đi những bƣớc đầu tiên trên con đƣờng thơ truân chuyên gian khó của mình. Sƣ̣ xuấ t hiê ̣n của nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh đã ta ̣o thành “hiê ̣n tƣơ ̣ng” trong giới viế t trẻ với tiề m năng sáng ta ̣o khá “sung mañ ”. Cô liên tiế p cho ra mắ t công chúng yêu thơ các tác phẩ m đă ̣c sắ c đƣơ ̣c tâ ̣p hơ ̣p trong các tâ ̣p thơ : Khát (tháng 1/1999), Linh (tháng 5/2000), Đồng tử (tháng 9/3/2005) và gần đây nhấ t là tâ ̣p thơ Vili i n love.
Chỉ trong một thời gian ngắn cái tên Vi Thùy Linh đã dành đƣơ ̣c sƣ̣ quan tâm của đông đảo công chúng. Nữ nhà thơ đã ghi tên mình mô ̣t cách đầy ấ n tƣơ ̣ng trong làng thơ Việt Nam. Mă ̣c dù ở mỗi ngƣời ấ n tƣơ ̣ng đó có khác nhau đ i nƣ̃a , có ngƣời khen , có ngƣời chê , có ngƣời yêu quý và cũng có ngƣời phê phán nhƣng chúng ta không thể phủ nhận rằng Vi Thùy Linh là mô ̣t “hiê ̣n tƣơ ̣ng”. “Hiê ̣n tƣơ ̣ng Vi Thùy Linh” đã ta ̣o nên các cuô ̣c tranh luâ ̣n rấ t sôi nổ i với hai luồ ng ý kiế n trái ngƣơ ̣c nhau: Nhóm những ngƣời coi thơ Vi Thùy Linh là mô ̣t “hiê ̣n tƣơ ̣ng thơ mới” , là “trẻ thứ thiệt” điển hình là Nguyễn Trọng Tạo , Nguyễn Huy Thiê ̣p, Hoàng Hƣng, Nguyễn Thu ̣y Kha, Phạm Xuân Nguyên… 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và nhóm những ngƣời đố i lâ ̣p không coi thơ Vi Thùy Linh là thơ nhƣ Nguyễn Thanh Sơn , Hoàng Xuân Tuyền , Hƣng Yên , Trầ n Ma ̣nh Hảo… Cuô ̣c tranh luâ ̣n kéo dài tƣ̀ ngày 17 tháng 2 năm 2001 đến ngày 24 tháng 3 năm 2001.
Liên tiế p trên các số 7, 8, 9, 10 của báo Ngƣời Hà Nội , khởi đầ u tƣ̀ bài viế t “Đầ u thiên niên kỷ ma ̣n đàm về thơ trẻ” của nhà thơ Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o đƣơ ̣c nhà thơ Hoàng Hƣng trích đăng trên báo Lao Động. Cuô ̣c tranh luâ ̣n này về hình thức đã chấm dứt với bài “ Trả lời thƣ ngỏ” của nhà thơ Hoàng Hƣng , nhà thơ Bế Kiến Quốc đăng trên báo Ngƣời Hà Nội số 12 ra ngày 24 tháng 3 năm 2001 chƣa làm thỏa lòng công chúng yêu thơ.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ Qua thế kỷ 20, thơ hiện đại nổi bật với tham vọng cách mạng về nhận thức và mỹ học: “Gạt bỏ sự kiểm soát của lý trí, để vô thức và tiềm thức dẫn dắt một cách viết tự động (écriture automatique) nhằm đạt đƣợc nhận thức nguyên sơ, trực giác về sự vật” (Tuyên ngôn siêu thực của André Breton, 1924). Chính vì lẽ đó mà khó có thể khái quát vài đặc điểm về sự phong phú đa dạng chƣa từng có của thơ ca hiện đại qua suốt một thế kỷ đầy biến động xã hội và nhảy vọt về khoa học kỹ thuật. Việc nghiên cứu và chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ thơ đã đƣợc trình bày khái quát trong cuốn Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam của Hữu Đạt.
Sẽ là phiến diện nếu xem xét ngôn ngữ thơ ca chỉ chú ý tới hình thức mà không chú ý đến nội dung. Nói cụ thể hơn, khi chú ý đến mối quan hệ này cần phải quan tâm đến cả hai mặt: mặt hình thức của hình thức và mặt hình thức của nội dung. Có nhƣ vậy chúng ta mới thấy đƣợc tiềm năng – tức tiền đề vật chất của ngôn ngữ dân tộc trong quá trình sáng tạo nghệ thuật ở mỗi một tác giả hoặc mỗi trào lƣu thơ ca. Phƣơng thức biểu hiện của ngôn ngữ thơ thực chất bao gồm hai mặt: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mặt thứ nhất: phải phân tích những kiểu diễn đạt cơ bản trong thơ ca.
Chẳng hạn nhƣ những kiểu so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tỉ dụ, khoa trƣơng… là những kiểu diễn đạt hay đƣợc dùng phổ biến nhất, mang đặc điểm ngôn ngữ thể loại. - Mặt thứ hai: cần phải phân tích những biện pháp chuyển nghĩa mà nhà thơ áp dụng để biểu thị những suy nghĩ, tình cảm của mình trƣớc đối tƣợng, cũng nhƣ việc miêu tả những tính chất và phẩm cách của đối tƣợng. Tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tƣợng thơ Thơ là một thể loại của văn học nghệ thuật, cho nên hình tƣợng thơ cũng phần nào giống hình tƣợng của văn học nói chung. Tuy nhiên, nó cũng có điểm khác căn bản.
Đó là cách xây dựng hình tƣợng dựa trên những quy luật riêng của các hoạt động ngôn ngữ, khác với quy luật hoạt động ngôn ngữ trong lĩnh vực văn xuôi. Hình tƣợng thơ là một bức tranh sinh động và tƣơng đối hoàn chỉnh về cuộc sống đƣợc xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần, điệu với trí tƣởng tƣợng sáng tạo và cách đánh giá của ngƣời nghệ sĩ. Hình tƣợng thơ chính là mối quan hệ giữa các bộ phận của câu thơ, của đoạn thơ trong cách tổ chức những câu thơ, đoạn thơ để phản ánh đối tƣợng với những rung động tình cảm và cách đánh giá của ngƣời nghệ sĩ theo cách riêng của họ. Việc phân tích hình tƣợng thơ có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau, một mặt phải chú ý đến quan hệ kết hợp, mặt khác còn phải chú ý đến các thao tác liên tƣởng, so sánh, trong tƣ duy và cơ chế ngôn ngữ của tiếng Việt trong việc hiện thực hóa các thao tác đó.
Đặc điểm về tính nhạc của ngôn ngữ thơ Đặc điểm về tính nhạc là đặc điểm có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ. Nhƣng do mỗi một ngôn ngữ cụ thể có cơ cấu, cách cấu tạo và tổ chức khác 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau nên đặc điểm đó cũng đƣợc thể hiện ra một cách khác nhau. Tính giàu có về thanh điệu, nguyên âm và phụ âm là những đặc tính làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam có một dạng vẻ độc đáo riêng. Trƣớc hết nói về cách hòa âm trong thơ Việt Nam là nói tới cách hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một kiểu nhất định nào đó ở trong câu thơ, đoạn thơ và một bài thơ cụ thể.
Khả năng biểu hiện chủ yếu ở những từ tƣợng thanh, những từ láy âm nhƣ: lả lƣớt, lắc lƣ, nhấp nhô, ào ào, lơ thơ, mênh mông, rì rầm, ục ịch, lập lòe… Sức gợi tả này giúp cho việc tìm tòi, phát triển đƣờng nét giai điệu và lời ca để làm cho tiếng hát thêm độc đáo, ý vị, duyên dáng và đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc điểm về phong cách của nhà thơ Nói tới phong cách đặc điểm của mỗi nhà thơ, tức là chúng ta nói tới chủ thể sáng tạo của một tác phẩm cụ thể. Đặc điểm về phong cách của nhà thơ sẽ trực tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm. Đặc điểm ấy, đến lƣợt nó lại trực tiếp chịu sự chi phối của thế giới quan sáng tác, cách lựa chọn đề tài, chủ đề, lựa chọn đối tƣợng phản ánh của tác giả… Về thi pháp, ta có thể thấy thơ hiện đại khác thơ trƣớc nó (cổ điển, lãng mạn) ở những điểm sau: - Thơ hiện đại mang một nhạc tính nội tại, thứ nhạc do một xung động tiềm thức tạo ra và tác động tới tiềm thức ngƣời đọc (có thể so sánh với tác động của những câu thần chú).
Thơ hiện đại chủ yếu là thơ tự do có vần hoặc không vần, thơ văn xuôi, tức là thể thơ không định sẵn. - Hình ảnh trong thơ hiện đại bất ngờ, sửng sốt. Nhiều khi hai sự vật kết hợp với nhau tạo sự nhảy vọt về trí tƣởng tƣợng. Điều quan trọng là những kết hợp bất ngờ ấy không do “sự nghĩ” mà có.
Đó là thành quả của đời sống tâm hồn mãnh liệt (giống nhƣ những chất liệu của ban ngày kết hợp thành 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giấc mộng ban đêm). Nó cũng thể hiện “cái ngẫu nhiên” của đời sống hiện đại đầy bất trắc, đầy biến động không ai đoán định nổi. - Thơ hiện đại là “nghệ thuật của ngôn ngữ” theo đúng nghĩa. Hai con đƣờng làm mới ngôn ngữ thơ: một là đƣa vào thơ những từ ngữ mới xuất hiện trong đời sống, hai là tạo nghĩa mới cho từ cũ và tạo hẳn chữ mới.
Trong phút xuất thần của nhà thơ, những kết hợp từ, có vẻ vô nghĩa song lại chấn động tâm linh, buột ra từ cõi hoang sơ khi ngữ âm còn trinh trắng u ơ nhƣ những tín hiệu thiên nhiên chƣa khoác “ách” ngữ nghĩa của cộng đồng.