Luận văn thạc sĩ ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác vận động quần chúng từ năm 1930 đến năm 1939

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác vận động quần chúng từ năm 1930 đến năm 1939, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG NHỮNG NĂM 1930-1935

1.1. Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng

1.2. Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930-1931

1.3. Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932-1935

2. CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG NHỮNG NĂM 1936-1939

2.1. Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới

2.2. Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đoạn 1936-1939

3. CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo công tác vận động quần chúng Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 1939

Giai đoạn 1930-1939 là thời kỳ quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của công tác vận động quần chúng. Đảng đã nhận thức rõ vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng, từ đó xây dựng các phương pháp lãnh đạo phù hợp để huy động sức mạnh của nhân dân. Công tác vận động quần chúng không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là một chiến lược quan trọng để củng cố sức mạnh của Đảng và nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930 đã nhanh chóng nhận thức được tầm quan trọng của việc vận động quần chúng. Sự kết hợp giữa lý luận Mác-Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho công tác này.

1.2. Vai trò của quần chúng trong phong trào cách mạng

Quần chúng nhân dân đã đóng vai trò quyết định trong các phong trào cách mạng, từ việc tham gia biểu tình đến việc tổ chức các cuộc đấu tranh. Đảng đã khéo léo khai thác sức mạnh này để tạo ra những bước tiến quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

II. Những thách thức trong công tác vận động quần chúng giai đoạn 1930 1935

Giai đoạn đầu của công tác vận động quần chúng gặp nhiều thách thức lớn. Đảng phải đối mặt với sự đàn áp của thực dân Pháp và các thế lực phản động trong nước. Những khó khăn này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tìm ra các phương pháp hiệu quả để huy động quần chúng tham gia vào các hoạt động cách mạng.

2.1. Sự đàn áp của thực dân Pháp

Thực dân Pháp đã thực hiện nhiều biện pháp đàn áp mạnh mẽ nhằm ngăn chặn các hoạt động cách mạng. Điều này đã tạo ra một môi trường khó khăn cho công tác vận động quần chúng, đòi hỏi Đảng phải có những chiến lược linh hoạt và sáng tạo.

2.2. Khó khăn trong việc tổ chức quần chúng

Việc tổ chức quần chúng trong bối cảnh bị đàn áp là một thách thức lớn. Đảng đã phải tìm ra những hình thức tổ chức mới, phù hợp với tình hình thực tế để duy trì sự tham gia của quần chúng.

III. Phương pháp lãnh đạo công tác vận động quần chúng của Đảng 1930 1935

Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau để vận động quần chúng. Những phương pháp này không chỉ giúp tăng cường sự tham gia của quần chúng mà còn củng cố niềm tin vào Đảng. Việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, tổ chức và giáo dục đã tạo ra những hiệu quả tích cực trong công tác này.

3.1. Tuyên truyền và giáo dục chính trị

Đảng đã chú trọng đến công tác tuyên truyền và giáo dục chính trị cho quần chúng. Việc này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về mục tiêu cách mạng.

3.2. Tổ chức các phong trào quần chúng

Các phong trào quần chúng được tổ chức một cách bài bản, từ phong trào nông dân đến công nhân. Điều này đã tạo ra một sức mạnh tổng hợp, giúp Đảng thực hiện các mục tiêu cách mạng.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn của công tác vận động quần chúng 1930 1939

Công tác vận động quần chúng trong giai đoạn 1930-1939 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Sự tham gia đông đảo của quần chúng đã tạo ra những bước tiến lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Những kinh nghiệm từ giai đoạn này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

4.1. Thành công trong việc huy động quần chúng

Đảng đã thành công trong việc huy động quần chúng tham gia vào các phong trào cách mạng, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho công tác vận động quần chúng hiện nay

Những bài học từ giai đoạn 1930-1939 vẫn còn nguyên giá trị. Việc hiểu rõ vai trò của quần chúng và áp dụng các phương pháp phù hợp là điều cần thiết cho công tác vận động quần chúng hiện nay.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của công tác vận động quần chúng

Công tác vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1930-1939 đã để lại nhiều bài học quý giá. Những kinh nghiệm này không chỉ giúp Đảng vượt qua khó khăn mà còn tạo ra nền tảng vững chắc cho các giai đoạn sau. Tương lai của công tác này cần tiếp tục được phát triển và đổi mới để phù hợp với bối cảnh hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng trong thời kỳ mới

Trong bối cảnh hiện nay, công tác vận động quần chúng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng cần tiếp tục phát huy vai trò này để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

5.2. Định hướng phát triển công tác vận động quần chúng

Đảng cần có những định hướng rõ ràng và cụ thể cho công tác vận động quần chúng trong tương lai. Việc áp dụng công nghệ thông tin và các phương pháp hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả của công tác này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác vận động quần chúng từ năm 1930 đến năm 1939

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG NHỮNG NĂM 1930- 1935 1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng. Khái niệm quần chúng. Từ trước đến nay, trong cuộc sống hàng ngày và trong nghiên cứu khoa học đã có những quan niệm khác nhau về “quần chúng”. Đây là khái niệm có tính lịch sử, thường được tiếp cận dưới góc độ triết học, xã hội học và khoa học chính trị.

Trong Từ điển xã hội học giản yếu (bản tiếng Đức, Nxb. Kindler Muenchen, 1977, tr.423) viết: “Quần chúng là một khái niệm xã hội học- lịch sử dùng để chỉ bộ phận đông đảo nhất trong cộng đồng dân cư không bao gồm giai cấp thống trị và tầng lớp lãnh đạo. Như vậy, tại mỗi cộng đồng dân cư và ở trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, quần chúng có thể bao gồm những giai cấp và tầng lớp khác nhau, nhưng nó luôn không bao gồm tầng lớp thống trị và tầng lớp lãnh đạo”. Trong bối cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, quần chúng bao gồm giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, và tất cả những cá nhân thuộc các giai tầng không nắm quyền thống trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị- xã hội và các phong trào tôn giáo.

Khái lược về vai trò quần chúng nhân dân trong phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta từ 1858 đến trước khi thành lập Đảng (3/2/1930). Ngay từ thuở bình minh của lịch sử, sự nghiệp dựng nước và giữ nước đã gắn liền với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Điều này xuất phát từ đặc trưng nói chung của các dân tộc phương Đông khi dân cư phải quần tụ, đoàn kết để đương đầu với giặc ngoại xâm và làm thủy lợi. Điều này được phản ánh vào 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyền thoại và truyện Thánh Gióng là một điển hình, câu chuyện phản ánh tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt chống ngoại xâm ngay từ thuở xa xưa.

Hình ảnh Gióng ra trận là một chỉnh thể của sự đoàn kết của nhân dân, sự đóng góp của nhân dân nuôi Gióng khôn lớn, trang bị cho Gióng ngựa sắt, roi sắt, kể cả lũy tre, kể cả dân làng cũng xung trận.tất cả nói lên tinh thần đoàn kết đấu tranh bất khuất của dân tộc. Nhìn lại lịch sử dựng nước chống ngoại xâm từ đầu đến giữa thế kỷ XIX chúng ta đều thấy rõ một chân lý, sáng rõ một sự thật lịch sử hiển nhiên: khi nào, triều đại nào, lãnh tụ nào huy động được sức dân đoàn kết một lòng thì triều đại đó đứng vững, lãnh tụ đó giành thắng lợi. Triều Trần trong thế kỷ XIII sở dĩ đã thắng được quân Nguyên đông hơn mình, mạnh hơn mình nhiều lần bởi vì đã biết dùng kế ‘‘thanh dã’’, biết tranh thủ sức dân. Tâm đắc với nguyên nhân thành công của đời mình và cũng thể hiện nhãn quan chính trị sáng suốt đến cuối đời mình Trần Quốc Tuấn còn dặn lại vua Trần, nếu muốn duy trì nghiệp lớn của cha ông cần: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”.

Cuối triều Trần, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, Hồ Quý Ly đã thể hiện tài năng trị nước của mình với những chính sách cải cách mang một tầm nhìn vượt thời đại, tuy nhiên những cải cách của ông chưa mang lại hiệu quả thì đã vấp phải một trở ngại khách quan – sự xâm lược của nhà Minh- mặc dù đã có những sự chuẩn bị nhất định nhưng nhà Hồ vẫn không thể vượt qua được thử thách của lịch sử. Nguyên nhân của thất bại này nằm ngay trong lời than của con trai Hồ Quý Ly – Hồ Nguyên Trừng : không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo. Nói như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo : Vừa rồi, Nhân họ Hồ chính sự phiền hà để trong nước lòng dân oán hận! Không được lòng dân dẫn đến việc để mất nước là một thất bại có tính chất tất yếu. Nhận thức được giá trị sâu xa của quy luật đó nên sau này Nguyễn Trãi đã tổng kết một cách sâu sắc: dân như nước, chở thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân.

Sang thế kỷ XVIII, nhận thấy sự phức tạp của tình hình chính trị, xã hội ở cả hai Đàng, anh em Tây Sơn đã biết giương lá cờ lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo để huy động sức dân. Đi đến đâu anh em Tây Sơn cũng được ủng hộ, số người tham gia khởi nghĩa ngày một đông. Chỉ trong một thời gian ngắn nghĩa quân đã giành được nhiều thắng lợi vang dội, dẹp chúa Nguyễn, đánh tan tập đoàn Trịnh – Lê, bảo vệ thành công chủ quyền dân tộc trước sự xâm lăng của giặc Xiêm, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thanh, đặt nền móng vững chắc cho sự thống nhất sau này. Nổi bật và xuyên suốt trong quá trình gian khổ và vinh quang đó chính là vai trò của Nguyễn Huệ – người đã biết tranh thủ tinh thần ủng hộ của nhân dân, sự dũng cảm của binh sỹ để mang lại thắng lợi chung của cả dân tộc.

Nhìn sang lịch sử cận đại, mùa thu năm 1858, ngay từ khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân chống Pháp xâm lược đã bùng lên mạnh mẽ. Nhân dân Nam Bộ luôn đi đầu trong phong trào đánh Pháp, bắt đầu từ miền Đông, phong trào lan khắp Nam Bộ và biến thành một cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp, sôi nổi, gây cho giặc Pháp nhiều khó khăn và tổn thất. Từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ đi đến đâu quân Pháp cũng vấp phải tinh thần chiến đấu kiên cường của quần chúng nhân dân. Nhiều tấm gương nghĩa liệt quên mình vì dân tộc, thà hy sinh chứ không chịu nhục, làm cho chính kẻ thù cũng phải khâm phục.

Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo. Từ đất Gò Công, cuộc khởi nghĩa đã thu hút được nhiều nhân tài như Đỗ Quang, Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Nguyễn Thông, Thủ khoa Huân. với sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, lực lượng nghĩa binh có lúc lên tới 1 vạn người. Với lá cờ Bình Tây đại nguyên soái, cảm khái trước lòng dân yêu nước, Trương Định đã kháng lệnh triều đình không đi nhận chức Lãnh binh An Giang, tình nguyện ở lại cùng nhân dân kháng chiến.

Vì triều đình cố tình bỏ rơi hay tìm cách ngăn trở phá hoại, các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại, nhưng phong trào yêu nước chống Pháp trong nhân dân miền Nam không bao giờ bị dập tắt bất chấp muôn vàn thủ đoạn đàn áp man rợ của quân thù, đúng như lời tuyên bố hiên ngang của Nguyễn Trung Trực trước giặc Pháp: "Bao giờ người Tây làm hết cỏ đất này thì người Nam mới hết chống Tây". Ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu với những bài thơ, văn tế, hịch tràn đầy tính nhân văn, đậm đà chính nghĩa là người tiêu biểu trong cuộc đấu tranh dùng dùng ngòi bút để đánh giặc. Trong Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định tinh thần vì nghĩa của nhân dân mà xả thân mình để chiến đấu: vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh ; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Sau sự biến ở kinh thành Huế, nhân dân cả nước đi theo hưởng ứng phong trào Cần Vương khá mạnh mẽ, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đặc biệt do lực lượng lãnh đạo đã không đưa ra được những chính sách phù hợp, không biết tổ chức phong trào đấu tranh của đông đảo quần chúng cho tập trung, thống nhất nên phong trào Cần Vương đã thất bại. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh phong trào Cần Vương, lúc ấy còn có hàng loạt các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân, họ vùng đậy với mọi thứ khí thô sơ giới có trong tay gậy tầy, giáo mác, đinh ba, dao quắm…tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Tuy nhiên, do không thể tự mình tập hợp được lực lượng trong cả nước, thiếu cơ bản về năng lực lãnh đạo và tổ chức cũng như đường lối đúng đắn để chỉ đạo đấu tranh nên những phong trào nổi đạy tự động của nông dân cũng đi vào bế tắc và thất bại. Con đường cứu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến cũng như những nhận thức về vai trò quần chúng và cách thức tuyên truyền, vận động, tổ chức chỉ đạo quần chúng đấu trah theo thế giới quan phong kiến đã không đáp ứng được những yêu cầu của lịch sử và dãn đến thất bại.

Đầu thế kỷ XX, Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng về cơ cấu kinh tế, xã hội, trên cơ sở phức hợp những tác động của tư tưởng dân chủ tư sản từ Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc dội vào Việt Nam với những biến chuyển trong nước nên phong trào cách mạng Việt Nam đã mang một khuynh hướng mới, khuynh hướng dân chủ tư sản. Những sỹ phu phong kiến lãnh đạo như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền…cùng với việc phổ biến sử dụng các khái niệm mới như: tự do, dân chủ, bình đẳng, dân sinh, dân quyền, lập hiến…những nhận thức về công tác quần chúng nói chung của văn thân, sỹ phu tiến bộ đã có những chuyển biến đáng kể, các nhà lãnh đạo đã chú ý tới đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907- 1908) - Thực dân Pháp gọi là “cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ”- chú ý vận động duy tân kinh tế và cải cách xã hội, đả kích tư tưởng bảo thủ, chống lối học từ chương và thi cử cũ, chống tham nhũng trong đội ngũ quan lại, chống các hủ tục lạc hậu, hô hào cắt tóc ngắn, bài trừ nạn xôi thịt ở hương thôn…Cuộc vận động cách mạng hồi đầu thế kỷ XX đã bắt đầu có tính chất dân tộc và dân chủ, tuy vậy, tính chất tiến bộ đó, vì nhiều lý do khác nhau nên đã có nhiều hạn chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ