Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Chương 2. Những nhân tố ảnh hưởng và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thoại Sơn giai đoạn 1990 – 2012 - Chương 3. Đánh giá kết quả và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thoại Sơn.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Một số khái niệm 1. Cơ cấu kinh tế Theo từ điển triết học thì “cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống.
Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật hiện tượng nó biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng"[49]. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy sự hình thành phân công lao động xã hội. Các ngành, các lĩnh vực của nền sản xuất được phân chia theo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật.
Các ngành, các lĩnh vực kinh tế được hình thành dẫn đến những mối quan hệ giữa chúng với nhau. Mối quan hệ đó vừa thể hiện sự hợp tác, hỗ trợ nhau song cũng cạnh tranh với nhau để phát triển. Và chính sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong trường hợp thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành CCKT. Là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội, cơ cấu kinh tế phản ánh mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của nền kinh tế.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận, các phân hệ được kết hợp với nhau một cách hài hòa, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, có nhịp độ tăng trưởng và phát triển ổn định, nâng cao mức sống của dân cư và tạo điều kiện cho người lao động làm việc có hiệu quả[25]. Trên cơ sở đó, khái niệm cơ bản về CCKT được trình bày như sau: “CCKT là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu đã định”[1]. Theo đó, CCKT của một nước là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của nước đó: các lĩnh vực sản xuất; các ngành kinh tế; các 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phần kinh tế; các vùng kinh tế…Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu kinh tế riêng của mình tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội, địa lý kinh tế cụ thể. Cơ cấu kinh tế chính là trụ cột của nền kinh tế quốc dân, tác động trực tiếp tới phát triển kinh tế.
Một quốc gia có cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững và ngược lại, cơ cấu kinh tế lạc hậu sẽ cản trở tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế[23]. Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt những nội dung, mục tiêu, định hướng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan khoa học nhưng cơ cấu kinh tế cũng chịu sự tác động, chi phối của yếu tố chủ quan là Nhà nước. Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, quy định các tỷ lệ của cơ cấu kinh tế nhưng vẫn có sự tác động gián tiếp bằng các định hướng phát triển để thực hiện cho được những mục tiêu đã đề ra[22].Những định hướng đó phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với những điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương nhất định.
Cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng phát triển. Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động và biến đổi do sự vận động biến đổi của lực lượng sản xuất. Xây dựng cơ cấu kinh tế cần thiết là yêu cầu khách quan của mỗi nước, mỗi vùng miền trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên phạm vi cả nước, cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung của chiến lược kinh tế xã hội.
Một cơ cấu kinh tế hợp lí phải phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển khách quan, mọi ý định chủ quan, nóng vội hay bảo thủ trong việc tạo ra sự thay đổi cơ cấu thường dẫn đến hậu quả không nhỏ đối với nền kinh tế. *Các khía cạnh biểu hiện Cơ cấu kinh tế được biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, cách biểu hiện rộng rãi và phổ biến nhất là ở 3 khía cạnh: Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế thành phần và cơ câu kinh tế lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế ngành: Là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỉ lệ, biểu hiện mối quan hệ của các ngành kinh tế. Cơ cấu ngành là bộ phận cơ bản và quan trọng cấu thành nên nền kinh tế, nó là nòng cốt của chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước chuyển sang nền kinh tế 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tri thức.Cơ cấu ngành thường chia nền kinh tế ra làm ba khu vực: Khu vực I (nông – lâm – ngư nghiệp), Khu vực II (công nghiệp, xây dựng cơ bản), Khu vực III (dịch vụ).
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ: là cơ cấu kinh tế được hình thành bởi việc bố trí sản xuất theo không gian địa lí. Nước ta, cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ được chia thành tám vùng kinh tế chính là: Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long. Trong đó có hai vùng kinh tế lớn là Đồng bằng Sông Hồng, với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Miền Đông Nam Bộ với Vùng kinh tế trong điểm phía nam. Cơ cấu kinh tế thành phần: Là hệ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau.
Nước ta hiện nay có sáu thành phần kinh tế là: Kinh tế nhà nước, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân, Kinh tế tư bản nhà nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, thành phần kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo, đảm trách những ngành kinh tế quan trọng của đất nước, giữ vai trò cầm lái cho nền kinh tế. Đây là ba khía cạnh biểu hiện, đồng thời cũng được coi là ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế có quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau. Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế có vai trò rất quan trọng.
Cơ cấu ngành hình thành trước và trên cơ sở phân bố các ngành cơ cấu lãnh thổ sẽ hình thành, trên cơ sở tổ chức sở hữu sẽ hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên lãnh thổ[34]. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi. Bởi CCKT là một hệ thống động, nghĩa là nó luôn luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Sự vận động là thuộc tính tất yếu bên trong của hệ thống. Ở mỗi giai đoạn phù hợp với trình độ phát triển nhất định của quá trình sản xuất sẽ hình thành một CCKT tương đối hợp lý ứng với giai đoạn đó. Điều đó có nghĩa là CCKT luôn luôn thay đỏi theo từng thời kỳ phát triển. Sự thay đổi của CCKT phản ánh trình độ phát 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển của sức sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc.
Cùng với đó, sự phát triển của phân công lao động xã hội lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế được củng cố và phát triển. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển theo từng thời kỳ phát triển phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội. “Sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỉ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển được gọi là sự CDCCKT”[30]. Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu.
Việc CDCCKT phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Như vậy, CDCCKT về thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện của CCKT nhằm hướng tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển. CDCCKT là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nên kinh tế. Nếu CCKT chuyển dịch đúng hướng, hợp lý thì nền kinh tế phát triển và ngược lại, nếu CCKT chuyển dịch sai hướng sẽ làm trì trệ sự phát triển kinh tế, để lại hậu quả xấu cho xã hội.
Thực chất của CDCCKT là sự phát triển không đều giữa các ngành. Ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành có tốc độ thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng.