CHƯƠNG 1 NHỮNG PHẢN ẢNH CỦA CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ 1.1 Cán cân thương mại phản ảnh những vấn đề gì trong nền kinh tế? Cán cân thương mại hay còn gọi là cán cân mậu dịch, thành phần chủ yếu trong tài khoản vãng lai, đây là thuật ngữ chỉ chênh lệnh xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia. Một thâm hụt trong cán cân thương mại tiêu biểu một giá trị hàng nhập khẩu lớn hàng xuất khẩu. Ngược lại, thặng dư thương mại phản ánh giá trị hàng xuất khẩu lớn hơn giá trị hàng nhập khẩu.1 Cán cân thương mại dưới góc độ xuất nhập khẩu 1.1 Phản ảnh của cán cân thương mại Dưới góc độ xuất nhập khẩu, cán cân này phản ánh những khoản thu chi về xuất nhập khẩu hàng hoá trong một thời kỳ nhất định. Khi cán cân thương mại thặng dư điều này có nghĩa là nước đó đã thu được từ xuất khẩu nhiều hơn phải trả cho nhập khẩu và ngược lại, khi cán cân thương mại thâm hụt điều này có nghĩa là nước đó đã thu được từ xuất khẩu ít hơn phải trả cho nhập khẩu.
Cán cân thương mại (TB) = Giá trị xuất khẩu (X) – Giá trị nhập khẩu (M) Cán cân thương mại thặng dư khi (X – M) > 0; ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt khi (X – M) < 0.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại Nhiều quan điểm nghiên cứu cho rằng có bốn nhân tố chính ảnh hưởng đến cán cân thương mại bao gồm: - Lạm phát; - Thu nhập quốc dân; - Tỷ giá hối đoái; - Các biện pháp hạn chế của chính phủ. Ảnh hưởng của lạm phát: Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng so với các quốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 gia khác có quan hệ mậu dịch thì cán cân thương mại sẽ thâm hụt nếu các yếu tố khác không đổi. Bởi vì người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước hầu như sẽ mua hàng nhiều hơn từ nước ngoài, trong khi xuất khẩu sang nước khác lại sụt giảm. Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân: Nếu mức thu nhập của một quốc gia tăng theo một tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng của các quốc gia khác, cán cân thương mại sẽ thâm hụt nếu các yếu tố khác bằng nhau.
Do mức thu nhập thực tế tăng nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cũng tăng nhất là đối với các hàng hóa nhập khẩu. Để minh họa, có thể xém xét nghiên cứu của Singh (2002) về trường hợp của Ấn Độ, nghiên cứu chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa thu nhập quốc dân thực của Ấn Độ với cán cân thương mại nước này là (-1,87) nếu cố định các yếu tố ảnh hưởng khác. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái: Nếu đồng tiền của một nước bắt đầu tăng giá so với đồng tiền của các nước khác thì cán cân thương mại sẽ thâm hụt nếu các yếu tố khác bằng nhau, hàng hóa xuất khẩu từ nước này sẽ trở nên đắt hơn đối với nước nhập khẩu nếu đồng tiền của họ mạnh, kết quả nhu cầu hàng hóa đó sẽ giảm. Để minh họa, Qnafowora's (2003) kiểm định ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá thực tới cán cân thương mại.
Nghiên cứu của Qnafowora’s điều tra ba nước ASEAN là Malaysia, Indonesia và Thái Lan trong thương mại song phương với Hoa Kỳ và Nhật Bản bằng cách sử dụng mô hình sửa lỗi đồng liên kết (Vector Error Correction Model (VECM)). Kết quả cho thấy trong dài hạn tỷ giá thực tế ảnh hưởng tích cực lên cán cân thương mại trong các trường hợp, khi cố định các yếu tố khác, hệ số tương quan được tìm thấy như sau: Indonesia - Nhật Bản (+0,351), Indonesia - US (+0,243), Malaysia - Nhật Bản (+1,252), Malaysia - US (+0,644), Thái Lan - Nhật Bản (+1,082) và Thái Lan - US (+1,665). Ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế của chính phủ: Nếu chính phủ của một quốc gia đánh thuế trên hàng nhập khẩu, giá của hàng nước ngoài tăng lên trên thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tế, nếu không có trả đũa thương mại, cán cân thương mại sẽ được cải thiện. Ngoài thuế nhâp khẩu, các chính phủ còn có thể sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để cắt giảm nhập khẩu hướng đến cải thiện cán cân thương mại.2 Cán cân thương mại theo cách tiếp cận mối quan hệ giữa đầu tư và tiết kiệm 1.1 Quan hệ cán cân thương mại với đầu tư và tiết kiệm Theo lý thuyết kinh tế học dưới góc độ đầu tư và tiết kiệm, thâm hụt thương mại (thành phần chính gây thâm hụt tài khoản vãng lai) là do sự mất cân đối giữa đầu tư và tiết kiệm.
Chúng ta sử dụng một đẳng thức cơ bản trong kinh tế học nói lên quan hệ giữa thâm hụt thương mại, mức tiết kiệm và đầu tư như sau: TB = S – I Trong đó, TB (Trade banlance) là mức thâm hụt/thặng dư của cán cân thương mại, S (domestic savings) là mức tiết kiệm trong nền kinh tế và I (investment) là đầu tư. Đẳng thức cơ bản này cho thấy rất rõ mối quan hệ giữa thâm hụt cán cân thương mại (nhập siêu) với mức tiết kiệm và đầu tư trong nước. Cũng theo đẳng thức này, vấn đề của thâm hụt thương mại không nằm ở chính sách thương mại, mà có nguồn gốc ở các vấn đề kinh tế vĩ mô. Xây dựng mối quan hệ giữa thâm hụt thương mại, đầu tư và tiết kiệm trong một nền kinh tế: Trong một nền kinh tế đóng, không có hoạt động xuất nhập khẩu ta có: Y=C+I+G (i) Trong đó, Y là thu nhập quốc dân, được chi vào các khoản C là tiêu dùng, I là đầu tư và G là chi tiêu của khu vực chính phủ.
Đẳng thức (i) ở trên được viết lại là: Y-C–G=I (ii) Y – C – G là tiết kiệm, gọi là S. Như vậy, trong nền kinh tế đóng, bao giờ cũng có sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong nền kinh tế mở ta có các hoạt động xuất nhập khẩu, nên đẳng thức (i) sẽ được viết như sau: Y = C + I + G + (X - M) (iii) Trong đó X là xuất khẩu, M là nhập khẩu, số chênh lệch giữa (X – M) là thâm hụt/thặng dư thương mại. Nếu ta coi (X – M) = TB, ta sẽ có: TB = Y – C – G – I (iv) Và ta biết Y – C – G chính là tiết kiệm S.
Nên ta có thể viết là: TB = S – I (v) 1.2 Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại Một trong những nguyên nhân gây ra thâm hụt thương mại chính là thâm hụt ngân sách nhà nước, để thấy được mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại, ta viết lại đẳng thức (v) ở trên như sau: TB = Sp + Sg – I = (Y – T – C) + (T – G) – I (vi) Trong đó Sp là tiết kiệm của khu vực tư nhân, Sg chính là chênh lệch giữa thu ngân sách (T) và chi tiêu của chính phủ (G). Con số chênh lệch giữa thu (T) và chi ngân sách (G) chính là thâm hụt ngân sách. Từ đẳng thức trên, ta thấy việc tăng tiết kiệm của khu vực tư nhân sẽ cải thiện thâm hụt thương mại. Việc tăng đầu tư hay tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn tới thâm hụt thương mại (nguyên nhân chính làm thâm hụt tài khoản vãng lai).
Và như vậy, nếu các yếu tố khác không thay đổi, thì rất có thể chính thâm hụt ngân sách sẽ dẫn tới thâm hụt thương mại nói riêng và tài khoản vãng lai nói chung. Một trong những nguy cơ gây ra khủng hoảng kinh tế, đó là vấn đề thâm hụt kép: Vừa thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, lại vừa thâm hụt ngân sách chính phủ cũng lớn. Hiện nay, theo các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) thì dường như Việt Nam đang gặp phải vấn đề thâm hụt kép.3 Thâm hụt thương mại là tốt hay xấu? Chúng ta cần đưa ra câu trả lời cho một câu hỏi là: Nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai tốt hay xấu? Ở đây, nếu chỉ nhìn vào con số nhập siêu và thâm hụt tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khoản vãng lai thì chắc chắn sẽ không có câu trả lời rõ ràng. Câu trả lời tùy thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô, cũng như phụ thuộc vào tình hình tài khoản vốn.
Tuy nhiên, có một điểm cần nhấn mạnh là bản thân việc nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai về nguyên tắc là không tốt và cũng không xấu. Nó chỉ xấu khi thâm hụt quá lớn và dẫn tới khủng hoảng cán cân thanh toán, mất giá đồng tiền. Để đưa ra một nhận xét về mức độ thâm hụt cán cân thương mại của một quốc gia là tốt hay xấu, chúng ta cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể, không thể chỉ nhìn vào con số thâm hụt/thặng dư thương mại (hay thâm hụt/thặng dư tài khoản vãng lai) để rồi cho rằng thâm hụt đó là xấu hay tốt. Tuy nhiên, dường như có một quan niệm phổ biến (không chỉ ở Việt Nam) là nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là không tốt và thể hiện một nền kinh tế yếu kém và ngược lại xuất siêu và có thặng dư trên tài khoản vãng lai, thì quan niệm này cho rằng thặng dư thương mại là điều tốt và thể hiện một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt.
Mặc dù trong một số ít trường hợp, quan niệm như trên không phải là không đúng, nhưng theo lý thuyết kinh tế thì không hẳn là như vậy. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thâm hụt thương mại (nhập siêu) và hệ quả là thâm hụt tài khoản vãng lai thực sự gây ra nhiều vấn đề cho một số nước, nhiều nước đã lâm vào khủng hoảng (khủng hoảng nợ, khủng hoảng đồng tiền) sau khi có mức thâm hụt thương mại lớn, thường xuyên và lâu dài điển hình là cuộc khủng hoảng Châu Á những năm 1997 - 1998. Trong nhiều trường hợp, thì thâm hụt cán cân thương mại là thể hiện một nền kinh tế đang tăng trưởng tốt. Khi một nền kinh tế có tiềm năng tăng trưởng tốt, có nhiều cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao, nhu cầu đầu tư cao hơn khả năng tiết kiệm trong nước, điều này sẽ làm cho các dòng vốn nước ngoài chảy vào quốc gia đó để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tức là một quốc gia có thể sử dụng nguồn lực của nước khác để phát triển kinh tế trong nước.