Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ, tích lũy và sử dụng vốn đóng vai trò là đòn bẩy then chốt để kiến thiết hạ tầng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành. Giai đoạn 2011 - 2015, tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) của tỉnh Bình Thuận tăng trưởng bình quân 6,72%/năm, huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 76.497 tỷ đồng, tương đương 41,7% GRDP. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng của địa phương bộc lộ sự phụ thuộc lớn vào vốn thâm dụng khi đóng góp của vốn vào tăng trưởng chiếm tới 47,6%, trong khi hiệu quả sử dụng vốn còn thấp với hệ số ICOR bình quân lên đến 6,2 (cao hơn mức 5,4 của cả nước). Đồng thời, tình trạng phân bổ vốn dàn trải đã dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản chạm mốc 226,084 tỷ đồng vào năm 2011.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của tác giả Võ Đức Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Sử Đình Thành tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH), được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề cấp bách về hiệu quả quản trị nguồn lực công. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng giải ngân vốn giai đoạn 2011 - 2015 và lượng hóa mức độ tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Bình Thuận trên chuỗi dữ liệu 25 năm (1991 - 2015). Kết quả nghiên cứu mang lại luận cứ khoa học thực tiễn, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế phân cấp, tối ưu hóa danh mục dự án và nâng cao tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong các giai đoạn kế hoạch tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết tăng trưởng kinh tế kinh điển và hiện đại:

  • Mô hình Harrod – Domar: Khẳng định tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào tỷ lệ tích lũy vốn và hiệu quả sử dụng vốn thông qua hệ số ICOR. Mô hình chỉ ra rằng muốn gia tăng sản lượng đầu ra cần mở rộng quy mô vốn đầu tư đồng bộ với năng lực hấp thụ của nền kinh tế.
  • Mô hình tăng trưởng tân cổ điển Solow: Bổ sung yếu tố lao động và tiến bộ công nghệ ngoại sinh vào hàm sản xuất mở rộng $Y = F(K, L, T)$. Mô hình thừa nhận quy luật lợi suất biên giảm dần của vốn và nhấn mạnh vai trò của tích lũy tài sản cố định trong việc xác định trạng thái dừng của nền kinh tế.
  • Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: Giải thích tăng trưởng dài hạn thông qua đầu tư vào vốn nhân lực, hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) và hiệu ứng ngoại tác tích cực từ hạ tầng công cộng, giúp triệt tiêu hiện tượng lợi suất giảm dần của vốn vật chất.
  • Mô hình kinh tế hai khu vực (David Ricardo, Lewis, Fei – Ranis): Phân tích sự chuyển dịch nguồn lực vốn và lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn.

Các khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa theo Luật Đầu tư công năm 2014, xác định vốn đầu tư công bao gồm ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, công trái quốc gia, ODA, vốn vay ưu đãi và tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước nhằm phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội phi lợi nhuận.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp phương pháp phân tích định tính (thống kê mô tả, so sánh cơ cấu, đánh giá chỉ số ICOR) và phương pháp kinh tế lượng định lượng trên chuỗi thời gian:

  • Quy mô mẫu và nguồn dữ liệu: Mẫu nghiên cứu bao gồm 25 quan sát theo chuỗi thời gian thường niên từ năm 1991 đến năm 2015. Toàn bộ dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận và Niên giám thống kê quốc gia.
  • Mô hình phân tích: Luận văn ứng dụng mô hình Phân phối trễ tự hồi quy (ARDL - Autoregressive Distributed Lag) trên phần mềm EViews 9. Hàm hồi quy được thiết lập ở dạng logarit tự nhiên: $$\ln(Y_t) = \alpha_0 + \sum \beta_{1i} \ln(Y_{t-i}) + \sum \beta_{2i} \ln(Ig_{t-i}) + \sum \beta_{3i} \ln(Ip_{t-i}) + \sum \beta_{4i} \ln(L_{t-i}) + \varepsilon_t$$ Trong đó biến phụ thuộc $Y$ là tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP); các biến độc lập gồm vốn đầu tư công ($Ig$), vốn đầu tư tư nhân ($Ip$) và quy mô lực lượng lao động ($L$).
  • Lý do lựa chọn ARDL: Phương pháp kiểm định đường bao (Bound Test) của mô hình ARDL cho phép xử lý hiệu quả cỡ mẫu nhỏ (25 quan sát), áp dụng linh hoạt cho các chuỗi dữ liệu dừng ở bậc khác nhau $I(0)$ hoặc $I(1)$ mà không gặp hiện tượng hồi quy giả mạo, đồng thời tích hợp mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để phân tách tác động trong ngắn hạn và dài hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Cơ cấu tăng trưởng phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn: Trong giai đoạn 2011 - 2015, vốn đóng góp 47,6% vào tăng trưởng kinh tế Bình Thuận, trong khi lao động đóng góp 22,8% và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) chỉ đạt 29,6%. GRDP bình quân đầu người tăng từ 19,7 triệu đồng (1.008 USD) năm 2010 lên 37,6 triệu đồng (1.716 USD) năm 2015, nhưng vẫn thấp hơn 20% so với mức trung bình 2.109 USD của cả nước.
  2. Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư công mất cân đối: Tổng vốn đầu tư công đạt 10.806 tỷ đồng, chiếm 14,1% tổng vốn xã hội. Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kinh tế (56,6%, riêng nông lâm thủy sản chiếm 31,8%, giao thông vận tải chiếm 23,8%) và lĩnh vực xã hội (30,5%, trong đó giáo dục chiếm 12,7%, y tế chiếm 4,8%). Tuy nhiên, chi đầu tư cho khoa học công nghệ chỉ đạt 0,6% và công nghiệp chỉ chiếm 1%, gây cản trở mục tiêu hiện đại hóa nền kinh tế địa phương.
  3. Hạn chế về hiệu quả sử dụng vốn và nợ đọng: Hệ số ICOR của tỉnh ở mức 6,2 trong giai đoạn 2011 - 2015, cao hơn mức 5,4 của toàn quốc. Hiệu quả vốn FDI cao nhất với ICOR là 1,05, vốn nhà nước đạt 2,7, trong khi vốn tư nhân kém hiệu quả nhất. Tình trạng bố trí vốn phân tán khiến 45 dự án bị quá hạn thời gian bố trí vốn vào năm 2011 và nợ đọng xây dựng cơ bản lên đến hơn 226 tỷ đồng.
  4. Tác động dài hạn vượt trội của đầu tư công: Kiểm định Bound Test xác nhận tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân, lực lượng lao động và GRDP với mức ý nghĩa thống kê 1%. Trong dài hạn, đầu tư công tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nhờ phát huy vai trò mồi chài hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện kích hoạt 1.180 dự án tư nhân đăng ký với tổng vốn 272.016 tỷ đồng vào cuối năm 2015. Trong ngắn hạn, hệ số hiệu chỉnh sai số ECM mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, xác nhận tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng dài hạn sau các cú sốc.

Thảo luận kết quả

Kết quả ước lượng định lượng cho thấy sự tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm của Tô Trung Thành (2011) và Trần Nguyễn Ngọc - Lê Hoàng Phong (2014), khẳng định đầu tư công tại Việt Nam là nền tảng dẫn dắt tăng trưởng dài hạn nhưng độ co giãn ngắn hạn thường có độ trễ do thời gian giải ngân và thi công công trình kéo dài. Dữ liệu thực nghiệm khi đối chiếu với đồ thị tổng tích lũy phần dư (CUSUM) và tổng tích lũy bình phương phần dư (CUSUMSQ) đều nằm hoàn toàn trong dải giới hạn chuẩn 5%, chứng minh mô hình hồi quy hoàn toàn ổn định qua 25 năm biến động kinh tế.

Việc phân bổ vốn công tập trung tới 31,8% cho nông lâm thủy sản đã bảo đảm an sinh nông thôn (giảm tỷ lệ nghèo từ 9,09% năm 2011 xuống 1,6% năm 2015, đạt 100% xã có đường ô tô và trạm y tế chuẩn), nhưng mức đầu tư 0,6% cho công nghệ là lực cản khiến chỉ số TFP chưa bứt phá. Khi trình bày số liệu qua bảng cân đối liên ngành, có thể thấy rõ nguồn thu ngân sách địa phương cho đầu tư công chưa bền vững khi tiền sử dụng đất chiếm tới 60,5% vốn ngân sách tỉnh, trong khi thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh (thuế, phí) chỉ đóng góp khoảng 13% tổng vốn đầu tư công.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đổi mới quy trình thẩm định và phân bổ vốn đầu tư công: Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Tài chính áp dụng triệt để Luật Đầu tư công 2014 và Chỉ thị 1792/CT-TTg, xóa bỏ cơ chế "xin - cho" dự án. Thực hiện thẩm định độc lập 100% khả năng cân đối vốn trung hạn trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư; kiên quyết loại bỏ các dự án không lượng hóa được hiệu quả kinh tế - xã hội, hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2018.
  2. Tập trung giải ngân dứt điểm, xóa nợ đọng xây dựng cơ bản: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành quy chế siết chặt kỷ luật ngân sách, bắt buộc mức phân bổ vốn khởi công mới phải đạt tối thiểu 20% tổng mức đầu tư cho dự án nhóm B và 35% cho dự án nhóm C. Giới hạn thời gian hoàn thành dự án nhóm B tối đa 5 năm, nhóm C tối đa 3 năm; đặt mục tiêu giảm 100% số lượng dự án kéo dài quá hạn và xử lý dứt điểm 226 tỷ đồng nợ đọng xây dựng cơ bản trước năm 2020.
  3. Tái cơ cấu ngành nhận đầu tư công hướng đến công nghệ và công nghiệp: Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh danh mục vốn trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, nâng tỷ trọng chi đầu tư cho khoa học - công nghệ từ mức 0,6% lên tối thiểu 2,0% - 2,5% tổng chi đầu tư công; bố trí ngân sách phát triển hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp tập trung (như KCN Phan Thiết, Hàm Kiệm, Tuy Phong) nhằm nâng tỷ trọng đóng góp của TFP vào GRDP lên trên 35% vào năm 2020.
  4. Thúc đẩy mô hình đối tác công - tư (PPP) và nâng cao hiệu quả đền bù giải tỏa: UBND các huyện, thị xã chuẩn hóa công tác giải phóng mặt bằng, công khai khung giá đất và rút ngắn 30% thời gian bàn giao mặt bằng dự án. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư hạ tầng y tế, xử lý chất thải và logistics theo hình thức PPP, giảm tỷ lệ vốn ngân sách trong hạ tầng thương mại xuống dưới 10% nhằm thu hút dòng vốn tư nhân đạt trên 80.000 tỷ đồng giai đoạn 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm, hoàn thiện quy trình thẩm định nguồn vốn và tiêu chí chấm điểm ưu tiên dự án cấp tỉnh, huyện.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế phát triển và Tài chính công: Nắm vững quy trình ứng dụng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian ARDL, kỹ thuật kiểm định đường bao (Bound Test) và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM trên dữ liệu cấp địa phương.
  • Ban Quản lý dự án chuyên ngành và khu vực cấp huyện: Tiếp cận các giải pháp thực tiễn về kiểm soát tiến độ, hạn chế điều chỉnh tổng mức đầu tư và quy trình phối hợp giải phóng mặt bằng nhằm tránh phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.
  • Các chuyên gia hoạch định chính sách kinh tế vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: Sử dụng nguồn số liệu phân tích chuyên sâu giai đoạn 2011 - 2015 để đánh giá tính liên kết vùng, phân bổ nguồn lực hạ tầng giao thông và năng lượng tái tạo liên tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng mô hình kinh tế lượng nào để kiểm định tác động của đầu tư công?
Nghiên cứu sử dụng mô hình Phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) kết hợp kiểm định đường bao (Bound Test) trên phần mềm EViews 9 với chuỗi số liệu 25 năm (1991 - 2015). Phương pháp này giúp ước lượng đồng thời tác động dài hạn và ngắn hạn (qua mô hình ECM), tối ưu cho chuỗi dữ liệu có bậc tích hợp hỗn hợp $I(0)$ và $I(1)$.

Chỉ số ICOR của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 - 2015 phản ánh điều gì?
Hệ số ICOR bình quân của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 đạt 6,2, cao hơn mức 5,4 của toàn quốc. Điều này chỉ ra rằng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Bình Thuận còn thấp, phải cần đến 6,2 đồng vốn đầu tư mới tạo ra được 1 đồng GRDP tăng thêm trong kỳ.

Tại sao phân bổ vốn đầu tư công tại Bình Thuận giai đoạn 2011 - 2015 lại thiếu tính bền vững?
Cơ cấu thu cho đầu tư công bị phụ thuộc nặng vào nguồn thu tiền sử dụng đất (chiếm 60,5% ngân sách tỉnh) và hỗ trợ từ ngân sách trung ương (16,3%), trong khi nguồn điều tiết từ sản xuất kinh doanh (thuế, phí) chỉ chiếm khoảng 13%, dễ dẫn đến rủi ro hụt thu khi thị trường bất động sản biến động.

Đầu tư công đã mang lại những tác động tích cực cụ thể nào cho xã hội Bình Thuận?
Đầu tư công đã giúp phủ kín 100% đường giao thông đến trung tâm xã, nâng tỷ lệ hộ dùng điện lưới lên 98,9%, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở đạt 74% xã chuẩn quốc gia, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 28% (2010) lên 55% (2015) và kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 1,6%.

Nguyên nhân chính dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản và dự án kéo dài là gì?
Nguyên nhân cốt lõi là việc phê duyệt dự án vượt quá khả năng cân đối vốn ngân sách hàng năm, công tác thẩm định nặng tính hình thức, điều chỉnh thiết kế làm tăng tổng mức đầu tư và vướng mắc kéo dài trong khâu bồi thường giải phóng mặt bằng tại cơ sở.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò dẫn dắt của vốn đầu tư công đối với tăng trưởng GRDP tỉnh Bình Thuận trong dài hạn qua mô hình thực nghiệm ARDL giai đoạn 1991 - 2015.
  • Chỉ rõ các hạn chế nội tại giai đoạn 2011 - 2015: hiệu quả vốn thấp (ICOR 6,2), chi cho khoa học công nghệ quá thấp (0,6%) và nợ đọng xây dựng cơ bản lên đến hơn 226 tỷ đồng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ: tái cơ cấu ngành đầu tư, chuẩn hóa thẩm định vốn trung hạn, siết chặt kỷ luật giải ngân và đa dạng hóa nguồn lực PPP.
  • Lộ trình thực hiện trọng tâm trong giai đoạn 2016 - 2020 nhằm nâng mức đóng góp của chỉ số TFP lên trên 35% và giảm triệt để các dự án chậm tiến độ.
  • Các cấp lãnh đạo quản lý và chuyên viên phân tích chính sách hãy ứng dụng ngay khung đánh giá và các khuyến nghị của luận văn để nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách đầu tư công tại địa phương.