Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển huy động tiền gửi doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Phân tích phát triển huy động tiền gửi doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 2 Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động huy động tiền gửi doanh nghiệp của ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 2 1 Chi tiết tại Phụ lục 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HUY ĐỘNG TIỀN GỬI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về khách hàng doanh nghiệp Khác với nhiều nƣớc trên thế giới, pháp luật hiện hành Việt Nam có đƣa ra định nghĩa pháp lý về DN. Luật Doanh nghiệp tƣ nhân (1999), Luật Công ty (1990) mà sau đó đƣợc thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (1999) và mới đây nhất là Luật Doanh nghiệp (2005) là các văn bản đƣa ra định nghĩa chính thức về DN trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam.
Tuy nhiên ở một số văn bản khác của Việt Nam, khái niệm DN đƣợc xác định với nội hàm hạn hẹp hơn nhƣ Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam và các văn bản hƣớng dẫn thi hành… Theo điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 thì DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Phù hợp với quan điểm chung về DN nhƣ vậy, các văn bản pháp luật về tổ chức DN của Việt Nam hiện nay chỉ quy định rõ tƣ cách DN cho các chủ thể kinh doanh là: Doanh nghiệp tƣ nhân (quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005). Các loại công ty: công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005). Công ty nhà nƣớc (quy định trong Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc).
DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (quy định trong Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam). Trên cả bình diện nghiên cứu cũng nhƣ pháp luật thực định có thể thấy, quan niệm hiện nay về DN chƣa có sự thống nhất. Sự không thống nhất này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song điều đáng chú ý là hiện đang tồn tại một sự khác biệt lớn giữa quan điểm của Việt Nam (thể hiện trong pháp luật hiện hành) với đa số các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nƣớc về khái niệm DN. Với điều kiện đất nƣớc đang ở thời kỳ hội nhập, quan điểm về DN với ý nghĩa tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DN cần đƣợc tiếp cận phù hợp với xu hƣớng phổ biến, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa.
Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp Đặc điểm DN đƣợc xem xét ở hai góc độ: kinh tế - xã hội và pháp lý gắn với những yếu tố của kinh tế thị trƣờng. - Từ góc độ kinh tế - xã hội, các DN đƣợc coi là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế- xã hội. Bản chất của DN là những thực thể xã hội, sinh ra với chức năng chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh. DN đƣợc cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau nhƣ: cơ sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy quản lý điều hành, ngƣời lao động… Với chức năng kinh doanh, DN sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng nhƣ toàn xã hội.
Sự tồn tại của DN luôn đƣợc đặt trong môi trƣờng kinh tế- xã hội (cơ chế kinh tế, trình độ phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật, trình độ dân trí, văn hóa kinh doanh…) đều có tác động đến sự tồn tại và phát triển của DN ở những phƣơng diện và mức độ khác nhau. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các DN giữ vai trò trung tâm trong các hoạt động kinh tế, các DN là những khối chủ chốt của thị trƣờng, sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, tạo thành cơ sở của trao đổi thị trƣờng. - Từ góc độ pháp lý, DN đƣợc hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tƣ cách chủ thể pháp lý độc lập) và có ngành nghề kinh doanh. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, DN trở thành đối tƣợng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh.
Trong cơ chế thị trƣờng, DN có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau: Thứ nhất, DN là một loại chủ thể pháp luật. Với tƣ cách là một loại chủ thể pháp luật, DN có năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật, trong đó trƣớc hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh. Tính chất chủ thể pháp lý độc lập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 của DN cho phép DN có quyền tự chủ, đồng thời phải chịu trách nhiệm về việc tổ chức hoạt động. Thứ hai, DN đƣợc xác lập tƣ cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định.
Việc thành lập và đăng ký kinh doanh là cơ sở để xác định tính chất chủ thể pháp lý độc lập của DN, gắn với những đặc điểm của hoạt động kinh doanh. Đặc điểm này xuất phát từ yêu cầu của quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng. Thứ ba, DN phải có ngành nghề kinh doanh. Đặc điểm này biểu hiện ở chỗ hoạt động kinh doanh của DN đƣợc thực hiện có hệ thống, một cách độc lập, trên danh nghĩa và trách nhiệm của DN với mục đích hệ thống là một dấu hiệu cơ bản để xác định ngành nghề kinh doanh của DN.
Ngoài ra, bản thân ngành nghề kinh doanh cũng đã quy định mục đích thu lợi nhuận trong các hoạt động của DN. - Từ góc độ tài chính – huy động vốn đối với các NHTM: các DN tuy đặc điểm khác nhau, tuy nhiên với việc chủ yếu đƣợc thành lập nhằm hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận, theo đó việc đảm bảo duy trì nguồn vốn và tối ƣu hóa khả năng sinh lợi từ nguồn vốn luôn là mục tiêu hàng đầu của DN. Việc duy trì số dƣ tiền gửi tại ngân hàng thƣờng đi kèm với các tiện ích kèm theo nhƣ thấu chi DN, vay vốn bù đắp nguồn vốn lƣu động nhằm tối ƣu hóa khả năng sinh lời từ nguồn vốn nhàn rỗi bên cạnh việc đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh khi cần, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng khi đầu ra thƣờng khó giải quyết trong ngắn hạn thì việc gửi tiền của DN tại NHTM để trang trải các chi phí cố định đã trở thành một kênh tạo nguồn thu khá quan trọng của DN. Ngoài ra, so với nguồn vốn từ dân cƣ chịu ảnh hƣởng khá lớn từ các chính sách lãi suất của các NHTM và dễ biến động ở những thời điểm thị trƣờng vốn căng thẳng thì nguồn vốn của DN mặc dù có giá trị lớn nhƣng lại khá ổn định, DN thƣờng có khuynh hƣớng gắn bó với ngân hàng phục vụ hiệu quả cho DN, chính việc xác định mảng kinh doanh chính của DN mới là nguồn lợi nhuận chủ yếu so với lãi từ tiền gửi tại ngân hàng quyết định khuynh hƣớng này của DN.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các loại khách hàng doanh nghiệp Việc phân loại DN đƣợc dựa trên các tiêu chí khác nhau.Từ góc độ nghiên cứu và lập pháp, việc phân loại DN có ý nghĩa quan trong cho việc lựa chọn cơ chế điều chỉnh pháp luật thích hợp đối với DN, cả về quản lý Nhà nƣớc và quản trị DN. Có nhiều căn cứ để phân loại DN nhƣ căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích hoạt động của DN; phân loại theo cơ cấu nhà đầu tƣ và phƣơng thức góp vốn vào DN; phân loại theo tƣ cách pháp lý của DN. Ở hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau thì có sự phân chia các loại hình DN khác nhau.
Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử, xã hội đặc thù, DN và pháp luật về DN hiện nay vẫn còn nhiều điểm khác biệt lớn so với xu hƣớng phổ biến trên thế giới, một trong những khác biệt đó là vấn đề loại hình DN. Các loại hình DN theo pháp luật Việt Nam hiện hành bao gồm: - Một là, doanh nghiệp tƣ nhân. Theo Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2005, DN tƣ nhân đƣợc định nghĩa là “DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN”. - Hai là, công ty.
Theo pháp luật hiện hành, cách tiếp cận công ty của Việt Nam có nhiều điểm tƣơng đồng với quan điểm của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, theo đó công ty đƣợc chia thành hai nhóm: Nhóm công ty có tính chất đối nhân – công ty hợp danh. Theo khoản 1 Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005, công ty hợp danh là DN có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dƣới một tên chung (thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Nhóm công ty có tính chất đối vốn: là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ba là, DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Về bản chất, DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là công ty, tuy nhiên quy chế pháp lý cho các DN này không giống nhƣ các công ty có vốn đầu tƣ trong nƣớc. Nhiều ràng buộc pháp lý đƣợc đặt ra đối với DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Theo pháp luật hiện hành, DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài gồm 2 loại: DN liên doanh và DN có 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Bốn là, doanh nghiệp nhà nƣớc (DNNN). Đây là DN có lịch sử lâu đời và đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế theo quan điểm kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam.