Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Cơ sở lý luận. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Lý thuyết liên quan 2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển CNTT: Xã hội loài người phát triển như ngày nay là do con người luôn luôn sáng tạo, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào trong đời sống xã hội.
Để tăng năng suất lao động, con người đã thực hiện nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào nữa cuối thế kỷ 18 là quá trình cơ khí hoá, sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay. Từ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã dẫn đến sự ra đời của các nước công nghiệp và có sự chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế với năng suất lao động tăng lên rất nhiều. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai bắt đầu với nội dung chủ yếu về sự phát triển của ngành năng lượng mới, những vật liệu mới cho phép đổi mới và chế tạo những máy móc mới, công nghệ sinh học… Thành tựu lớn nhất của cách mạng khoa học này là các thế hệ máy tính điện tử ra đời, các ứng dụng máy tính là quá trình sử dụng máy tính trong xử lý thông tin để thay thế một phần lao động trí óc, trợ giúp phần điều khiển bằng trí tuệ của con người. Sau khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời năm 1944, giới học giả Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ “computer science” (khoa học về máy tính) để chỉ ngành khoa học dành riêng cho lĩnh vực này; người Pháp thì cho rằng máy tính điện tử dùng làm phương tiện xử lý thông tin, làm cho ngành thông tin phát triển mạnh hơn nên họ dùng thuật ngữ “informatique” (nghĩa là khoa học về xử lý thông tin trên máy tính điện tử).
Ở Việt Nam vào thập niên 1960, phía Bắc tiếp xúc với các hệ thống máy tính của Liên Xô, gọi những máy này là “máy tính điện tử”, đến thập niên 1970, những nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực này mới dịch “informatique” thành “Tin học”, và hiểu nghĩa như là một ngành khoa học nghiên cứu về thông tin và hiện nay vẫn sử dụng thuật ngữ này. Thuật ngữ "CNTT " xuất hiện lần đầu tiên trong một bài viết trên tạp chí Harvard Business Review (1958). Tác giả của bài viết (Leavitt và Whisler) đã có đoạn bình luận bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng, chúng ta sẽ gọi là CNTT (Information Technology - IT). Tuy nhiên, trong thời kỳ này thuật ngữ IT ít được sử dụng, nhưng con người không chỉ sử dụng máy tính để xử lý thông tin tại chỗ mà còn sử dụng máy tính cho những công việc khác nhau như truyền thông tin như: Năm 1969, cơ quan nghiên cứu của Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng đường điện thoại để kết nối hai máy tính, một máy tính đặt tại Los Angeles và một máy tính đặt ở trường Đại học Stanford.
Thí nghiệm này đã đặt nền tảng cho mạng Arpanet và sau đó là mạng toàn cầu Internet mà chúng ta đang sử dụng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Những năm 1960 - 1965 thư điện tử lần đầu được ra mắt tại viện Công nghệ Massachusetts - Hoa Kì. Năm 1971 Ray Tomlinson gửi bức thư điện tử đầu tiên trên hệ thống mạng ARPANET. Đến năm 1977 được phổ biến phương thức giao tiếp bằng thư điện tử gửi qua mạng Internet.
Năm 1981, hãng IBM cho ra đời chiếc PC (máy tính cá nhân) đầu tiên. Năm 1990 Tim Berners-Lee thông báo ý tưởng về một mạng World Wide Web và đã bắt tay ngay vào việc viết trang web đầu tiên. Cùng với sự phát triển của các loại máy tính, công nghệ điện tử phát triển với tốc độ cao, cho ra đời nhiều máy móc, thiết bị có những chức năng thu thập, lưu trữ, truyền thông tin với dung lượng lớn và tốc độ cao. Như vậy, không phải chỉ có máy tính, nhiều loại máy móc thiết bị đã tham gia vào quá trình xử lý thông tin và những năm gần đây thuật ngữ “CNTT ” để chỉ những vấn đề thuộc về lĩnh vực xử lý thông tin được sử dụng phổ biến.
Ngày nay, CNTT đã đưa con người vượt qua mọi cản trở của không gian và thời gian, mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học và công nghệ, chính trị, quân sự., thông tin và công nghệ tạo thành một dòng thác chung, cuốn hút mọi dân tộc, mọi quốc gia. Theo đó, nền văn minh công nghiệp chuyển thành nền văn minh thông tin với các siêu xa lộ thông tin toàn cầu. Các khái niệm về CNTT : 2. Công nghệ thông tin: Theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia: CNTT (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Theo Nghị quyết của Chính phủ số 49/CP ngày 04/08/1993: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Theo Luật CNTT (2006). CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số. Cơ sở hạ tầng thông tin: Theo Luật CNTT (2006).
Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ứng dụng CNTT : Luật CNTT (2006). Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
Phát triển CNTT : Luật CNTT (2006). Phát triển CNTT là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực CNTT; phát triển công nghiệp CNTT và phát triển dịch vụ CNTT 2. Công nghiệp CNTT : Luật CNTT (2006). Công nghiệp CNTT là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm CNTT, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số 2.
Cấu trúc của ngành CNTT : Các chuyên gia của Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông - Bộ Thông tin và Truyền thông đã nghiên cứu và đề xuất mô hình CNTT ở Việt Nam có tính đến những đặc thù riêng của nước ta. Theo mô hình này, cấu trúc của ngành CNTT được đặc trưng bởi bốn thành phần cơ bản đó là: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực CNTT, công nghiệp CNTT. Bốn thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ, tương trợ lẫn nhau và tạo nên sức mạnh CNTT của quốc gia và được thúc đẩy, phát triển bởi ba chủ thể quan trọng là Chính phủ, doanh nghiệp và người sử dụng. Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý, thể chế, chính sách, tổ chức, quản lý, điều phối, đào tạo, hợp tác quốc tế, thúc đẩy và hỗ trợ cho CNTT phát triển; đầu tư xây dựng các công trình phát triển CNTT qui mô lớn toàn quốc, khu vực theo chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước.
Các doanh nghiệp về CNTT tham gia đầu tư, cung cấp sản phẩm, dịch vụ, phát triển thị trường và cùng tham gia với chính phủ trong các hoạt động đào tạo, phổ biến kiến thức, kỹ thuật, công nghệ, xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển CNTT, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ. Người sử dụng là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân. Với vai trò là những đơn vị, cá nhân sử dụng các hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ CNTT. Người sử dụng gián tiếp đầu tư vào CNTT thông qua thị trường và cùng với các doanh nghiệp CNTT nghiên cứu thiết kế, cải tiến các sản phẩm và dịch vụ CNTT, tham LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 gia cùng với chính phủ trong các hoạt động xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển CNTT.
Ba chủ thể này có mối quan hệ tương quan, hỗ trợ, tác động lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau, có quan hệ hữu cơ trong một môi trường phát triển thống nhất bao gồm: hệ thống pháp lý, chính sách về CNTT, môi trường đầu tư cho CNTT và thị trường CNTT.1: Mô hình “Bốn thành phần, ba chủ thể” Nguồn: Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông, 2006. Tầm quan trọng của phát triển CNTT. CNTT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ứng dụng rộng rãi CNTT là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động.
Ứng dụng CNTT phải gắn với quá trình đổi mới và bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phải được lồng ghép trong các chương trình, hoạt động chính trị, quản lý, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ và an ninh quốc phòng. Công nghiệp CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn, được nhà nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cùng phát triển, tăng cường năng lực công nghệ trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ở Việt Nam, CNTT là một ngành tương đối mới, có xu hướng phát triển mạnh, mạnh, do vậy việc phát triển ngành CNTT có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chiến lược phát triển KT-XH của đất nước.