Tổng quan nghiên cứu

Ngành thủ công mỹ nghệ mây tre đan Việt Nam sở hữu bề dày truyền thống lâu đời với khoảng 713 làng nghề trong tổng số 2.017 làng nghề trên toàn quốc, thu hút hơn 1.700 doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh. Giá trị kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đã có bước tăng trưởng vượt bậc từ 48,21 triệu USD năm 1999 lên mức 211 triệu USD năm 2007 và đạt gần 225 triệu USD vào năm 2013, hiện diện tại hơn 120 quốc gia trên thế giới. Tại địa phương Tây Ninh, trong cơ cấu 26 ngành nghề nông thôn, mây tre đan giữ vị trí dẫn đầu khi đóng góp tỷ trọng giá trị sản xuất cao nhất đạt 11,95%, thu hút 12,85% tổng số hộ và giải quyết việc làm cho 16,59% lực lượng lao động nông thôn với mức thu nhập bình quân trên 2,5 triệu đồng mỗi tháng.

Tuy nhiên, ngành mây tre đan Tây Ninh đang đứng trước nguy cơ suy thoái do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật thô sơ, thiếu hụt nghiêm trọng vùng nguyên liệu tại chỗ và phụ thuộc hoàn toàn vào các kênh trung gian thu mua. Để giải quyết nút thắt này, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Chính sách công của tác giả Nguyễn Thành Đại dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Tiến Khai tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành mây tre đan Tây Ninh. Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn 3 huyện trọng điểm gồm Hòa Thành với 482 hộ và 1.707 lao động, Trảng Bàng với 150 hộ và 737 lao động, cùng Dương Minh Châu với 70 hộ và 140 lao động, bao quát tổng thể 722 hộ và 2.643 lao động toàn tỉnh. Ý nghĩa cốt lõi của đề tài là cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm giúp các cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách, hướng tới mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng thu nhập cho người lao động lên mức 4 đến 5 triệu đồng mỗi tháng và định vị vững chắc cụm ngành trên bản đồ xuất khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia và Mô hình Kim cương của Michael Porter, kết hợp cùng khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương gồm 3 cấp độ do chuyên gia Vũ Thành Tự Anh hoàn thiện vào năm 2011. Khung lý thuyết này đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên 3 trụ cột liên kết hữu cơ: các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương, năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương và năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa lý thuyết cụm ngành từ Alfred Marshall năm 1890 về khu vực công nghiệp tạo lợi thế kinh tế nhờ quy mô và Paul Krugman năm 1991 về tác động lan tỏa công nghệ.

Các khái niệm chính được vận dụng xuyên suốt gồm có: Cụm ngành, Năng lực cạnh tranh địa phương, Lợi thế so sánh chuyên môn hóa, Năng lực động của doanh nghiệp và Chuỗi giá trị ngành hàng. Mô hình nghiên cứu xem xét sự tác động qua lại giữa 4 nhân tố kim cương: điều kiện các yếu tố đầu vào, điều kiện về cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, cùng bối cảnh chiến lược và cạnh tranh nội tại của các cơ sở sản xuất mây tre đan.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong mốc thời gian phân tích từ năm 2000 đến năm 2015. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh, Niên giám thống kê Việt Nam và các văn bản quy hoạch phát triển làng nghề giai đoạn 2009-2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với tổng quy mô mẫu 235 đối tượng, áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích nhằm tiếp cận sâu vào các tác nhân trọng yếu của chuỗi giá trị.

Cỡ mẫu khảo sát thực tế bao gồm: 14 cơ sở sản xuất mây tre đan, 3 hộ trồng mây tre chuyên canh, 10 công nhân trực tiếp sản xuất, 2 thương lái thu mua nguyên liệu, 3 đại diện cơ quan quản lý nhà nước thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, 3 doanh nghiệp và hợp tác xã thu mua thành phẩm, cùng 200 phiếu điều tra thị hiếu người tiêu dùng tại chợ Long Hoa và chợ Tây Ninh. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp phân tích thống kê mô tả, so sánh chi phí - lợi nhuận và ma trận SWOT là bởi hoạt động sản xuất mây tre đan tại địa phương mang tính chất làng nghề đặc thù, quy mô hộ gia đình khép kín, đòi hỏi việc phỏng vấn sâu để bóc tách chính xác các khoản chi phí ẩn và nhận diện đúng các rào cản thể chế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, vùng nguyên liệu tại chỗ bị suy thoái và thu hẹp nghiêm trọng. Tây Ninh có tổng diện tích đất nông nghiệp lên đến 344.304,2 ha chiếm 85,38% diện tích tự nhiên, song diện tích quy hoạch trồng mây tre và tầm vông chỉ có 835,7 ha vào năm 2000 và quy hoạch chuyên canh tầm vông hiện hữu chỉ còn vỏn vẹn 200 ha chiếm tỷ lệ siêu nhỏ 0,06%. Nguyên nhân xuất phát từ hiệu quả kinh tế của đất trồng tầm vông bình quân chỉ đạt 11,21 triệu đồng/ha/năm với chu kỳ 17 năm gồm 7 năm kiến thiết và 10 năm khai thác. Con số này thấp hơn 53,3% so với trồng mì đạt 24 triệu đồng/ha/năm với năng suất 29,5 tấn/ha và thấp hơn 41% so với trồng mía đạt 19 triệu đồng/ha/năm với năng suất 74,3 tấn/ha, khiến nông dân ồ ạt chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Thứ hai, chi phí đầu vào tăng vọt do phụ thuộc vào nguyên liệu nhập ngoài tỉnh. Nguồn cung cạn kiệt buộc các cơ sở phải thu mua tầm vông từ Bình Dương, Bình Phước, Đắk Lắk và Campuchia thông qua thương lái. Chi phí phát sinh qua trung gian lên tới 10.000 đồng/cây gồm tiền công chặt, vận chuyển, uốn thẳng và lợi nhuận thương mại của thương lái 3.000 đồng/cây. Giá nguyên liệu loại 2 mua tại chỗ chỉ 18.000 đồng/cây bị đẩy lên mức 25.000 đồng/cây khi nhập ngoài tỉnh, làm cho chi phí nguyên liệu sản xuất nôi trẻ em tăng từ 90.000 đồng lên 125.000 đồng/cái và giường tre phủ sơn PU tăng thêm 210.000 đồng/cái từ 540.000 đồng lên 750.000 đồng/cái.

Thứ ba, quy mô sản xuất siêu nhỏ và trình độ cơ giới hóa cực kỳ thấp. Toàn bộ 100% cơ sở khảo sát hoạt động dưới mô hình kinh tế hộ với diện tích nhà xưởng dưới 500m2, sử dụng từ 3 đến 7 lao động, doanh thu hằng năm dưới 300 triệu đồng và lợi nhuận dưới 150 triệu đồng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh năm 2013 chỉ đạt 11,6%, học vấn công nhân ngành mây tre chủ yếu ở bậc tiểu học. Mức thu nhập bình quân của thợ đan chỉ đạt 2 đến 3 triệu đồng/tháng, chỉ tương đương 60% thu nhập của các ngành phi nông nghiệp khác. Mức độ tiếp cận vốn ngân hàng rất hạn chế khi mỗi hộ chỉ được vay tối đa 20 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách Xã hội với lãi suất 0,65%/tháng, trong khi nhu cầu thực tế để mở rộng sản xuất cần tối thiểu 50 triệu đồng.

Thứ tư, danh mục sản phẩm đơn điệu và chuỗi liên kết cụm ngành lỏng lẻo. Các cơ sở chỉ sản xuất quanh quẩn hơn 10 mặt hàng truyền thống như giường tre, nôi, ghế đôn, cần xé, tủ cà phê với thiết kế đơn giản. Dù hơn 70% sản lượng được đưa vào chuỗi xuất khẩu sang Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, nhưng toàn bộ đều thông qua hình thức gia công thô cho các doanh nghiệp trung gian tại huyện Củ Chi, Hóc Môn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh mà không có hợp đồng kinh tế ràng buộc hay thương hiệu riêng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng cụm ngành mây tre đan Tây Ninh phản ánh rõ nét hiện tượng kẹt trong bẫy gia công giá trị thấp và bẫy công nghệ lạc hậu, hoàn toàn tương đồng với kết luận trong nghiên cứu năm 2013 của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương về cụm ngành dệt may vùng Thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu năm 2012 của Nguyễn Văn Niệm về ngành dừa Bến Tre. Lợi thế nhân công giá rẻ chỉ mang tính ngắn hạn, khi chi phí nguyên liệu đội lên và dịch bệnh đuông đục thân tàn phá măng tầm vông mà không có giải pháp kỹ thuật sinh học xử lý, cụm ngành lập tức mất đi năng lực cạnh tranh cốt lõi.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ dịch chuyển cơ cấu kinh tế Tây Ninh giai đoạn 1976-2013 từ 89% nông nghiệp xuống 32% nông nghiệp, cùng bảng phân tích ma trận SWOT minh chứng sự đối lập giữa tiềm năng nguồn nước dồi dào từ hồ Dầu Tiếng dung tích 1,45 tỷ m3 với sự yếu kém trong hạ tầng liên kết chuỗi và năng lực tài chính của 5 hợp tác xã mây tre hiện hữu trên địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cụm ngành mây tre đan Tây Ninh:

  1. Quy hoạch và bảo tồn quỹ đất vùng nguyên liệu tập trung: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần khẩn trương rà soát, thực thi việc giao đất và giải phóng mặt bằng cho 200 ha vùng nguyên liệu tầm vông chuyên canh tại huyện Châu Thành. Áp dụng chính sách hỗ trợ 100% tiền mua cây giống lần đầu theo Quyết định 11/2011/QĐ-TTg, kết hợp chuyển giao quy trình sinh học phòng trừ sâu đuông đục thân nhằm giảm 25% đến 30% chi phí nhập nguyên liệu cho các cơ sở trong giai đoạn 2016-2020.
  2. Tái cấu trúc chuỗi liên kết và cơ chế tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp cùng các quỹ phát triển địa phương nâng định mức cho vay tín chấp đối với hộ sản xuất từ 20 triệu đồng lên mức 50 đến 100 triệu đồng mỗi cơ sở với thời hạn trung hạn 3 đến 5 năm. Đồng thời, củng cố năng lực quản trị cho 5 hợp tác xã mây tre tại Hòa Thành, Trảng Bàng để đóng vai trò đầu mối ký kết hợp đồng kinh tế và cung ứng nguyên vật liệu tập trung từ năm 2016 đến 2018.
  3. Đổi mới công nghệ sản xuất và chuẩn hóa đào tạo nghề: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì liên kết các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn đưa chương trình đào tạo kỹ thuật mây tre mỹ nghệ vào giảng dạy chính quy, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 11,6% lên 40% vào năm 2020. Hỗ trợ các cơ sở áp dụng cơ giới hóa đồng bộ tại 3 đến 5 công đoạn gồm chẻ nan, tiện mắt tre, uốn nhiệt và phun sơn PU bảo vệ môi trường.
  4. Phát triển mẫu mã, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường: Sở Công thương cùng Trung tâm Xúc tiến Thương mại hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho mây tre đan Tây Ninh, kết nối đưa sản phẩm vào 100% các khu điểm du lịch tâm linh như Núi Bà Đen, Tòa Thánh Tây Ninh. Xây dựng kênh xuất khẩu trực tiếp nhằm cắt giảm các khâu trung gian, mở rộng thị phần sang thị trường Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ trong tầm nhìn 2017-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương: Bao gồm Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực về 722 hộ sản xuất và 26 ngành nghề nông thôn để xây dựng quy hoạch làng nghề và ban hành các gói hỗ trợ lãi suất khả thi.
  2. Chủ cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp: Giúp các chủ hộ và ban quản trị 5 hợp tác xã nắm rõ cơ cấu chi phí, mức độ hao hụt nguyên liệu và sự chênh lệch giá thành giữa các vùng, từ đó chủ động tái cơ cấu sản xuất, cải tiến mẫu mã và đàm phán hợp đồng kinh tế minh bạch.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu về Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản trị chuỗi cung ứng nông thôn, cung cấp khung phân tích 3 cấp độ chuẩn mực kết hợp mô hình kim cương trong bối cảnh kinh tế địa phương.
  4. Các tổ chức phát triển cộng đồng và hiệp hội làng nghề: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các dự án an sinh xã hội, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và nâng cao quyền năng kinh tế cho hơn 2.600 lao động nông thôn tại các vùng biên giới Tây Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao vùng nguyên liệu mây tre đan tại Tây Ninh lại bị sụt giảm nghiêm trọng? Diện tích vùng nguyên liệu suy giảm do hiệu quả kinh tế từ đất trồng tầm vông chỉ đạt 11,21 triệu đồng/ha/năm, thấp hơn 53,3% so với trồng mì đạt 24 triệu đồng/ha và mía đạt 19 triệu đồng/ha. Thêm vào đó, dịch sâu đuông đục thân gây hại nặng nề cùng việc quy hoạch 200 ha đất chuyên canh chưa được bố trí mặt bằng đã khiến người dân phá bỏ vườn để chuyển sang cây công nghiệp khác.

  2. Chi phí nhập nguyên liệu ngoài tỉnh làm tăng giá thành sản phẩm mây tre như thế nào? Việc thiếu hụt nguyên liệu buộc cơ sở phải nhập tầm vông từ Bình Dương, Bình Phước hoặc Campuchia, làm phát sinh 10.000 đồng chi phí trung gian trên mỗi cây. Giá mua đội từ 18.000 đồng lên 25.000 đồng/cây, trực tiếp đẩy chi phí nguyên liệu của sản phẩm giường tre phủ sơn PU tăng thêm 210.000 đồng/cái và nôi trẻ em tăng thêm 35.000 đồng/cái.

  3. Khó khăn lớn nhất của các cơ sở sản xuất mây tre Tây Ninh trong tiếp cận vốn tín dụng là gì? Hầu hết các cơ sở sản xuất hoạt động theo quy mô hộ gia đình, thiếu tài sản có giá trị để thế chấp tại các ngân hàng thương mại. Nguồn vốn chính hiện nay dựa vào Ngân hàng Chính sách Xã hội nhưng bị giới hạn hạn mức chỉ 20 triệu đồng mỗi hộ với lãi suất 0,65%/tháng, không đủ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động tối thiểu 50 triệu đồng để mở rộng quy mô.

  4. Cụm ngành mây tre đan Tây Ninh hiện đang ở mức độ phát triển nào? Cụm ngành mây tre đan Tây Ninh mới đang ở giai đoạn sơ khai, thiếu tính liên kết hoàn chỉnh. Mặc dù có hơn 70% sản lượng phục vụ xuất khẩu, nhưng 100% cơ sở chỉ dừng lại ở khâu gia công thô cho các doanh nghiệp trung gian tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa có liên kết ngang giữa các hộ và liên kết dọc trong chuỗi giá trị còn rất yếu.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm mây tre địa phương? Giải pháp đột phá là chuẩn hóa vùng nguyên liệu 200 ha nhằm tự chủ nguồn cung, kết hợp đưa chương trình đào tạo nghề vào hệ thống trường nghề để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 11,6% lên 40%. Song song đó, các cơ sở cần cơ giới hóa 3 đến 5 công đoạn và xây dựng nhãn hiệu tập thể gắn với tour du lịch tâm linh của tỉnh.

Kết luận

  1. Ngành mây tre đan Tây Ninh giữ vai trò an sinh xã hội quan trọng với 722 hộ và 2.643 lao động, nhưng năng lực cạnh tranh đang ở mức thấp do quy mô manh mún và kỹ thuật thô sơ.
  2. Hiệu quả kinh tế của đất trồng tầm vông thấp đạt 11,21 triệu đồng/ha/năm là nguyên nhân chính khiến vùng nguyên liệu suy thoái, đẩy chi phí thu mua tăng thêm 10.000 đồng mỗi cây.
  3. Rào cản lớn nhất của các cơ sở là chất lượng lao động thấp với chỉ 11,6% qua đào tạo, hạn mức vốn vay chính sách hạn hẹp 20 triệu đồng và sự phụ thuộc hoàn toàn vào khâu gia công trung gian.
  4. Đóng góp cốt lõi của luận văn là xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện từ quy hoạch 200 ha vùng nguyên liệu, mở rộng hạn mức tín dụng đến 100 triệu đồng, đến xây dựng thương hiệu xuất khẩu giai đoạn 2016-2020.
  5. Các sở ban ngành tỉnh Tây Ninh và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động, triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ để chuyển đổi mô hình gia công giá trị thấp sang chuỗi giá trị bền vững ngay từ hôm nay.