Luận văn UEH: Yếu tố tác động đến thừa cân, béo phì học sinh THCS tại TPHCM

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh một số yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân béo phì của học sinh trung học cơ sở tại thành, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ DO NGHIÊN CỨU

1.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.6. KẾT CẤU LUẬN VĂN

2. CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM THỪA CÂN, BÉO PHÌ

2.1. GIỚI THIỆU

2.2. Phân loại béo phì

2.2.1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học

2.2.2. Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì

2.2.3. Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng thừa cân béo phì ở học sinh THCS tại TP

Tình trạng thừa cân, béo phì đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội hiện đại, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh. Theo nghiên cứu của WHO, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em đang gia tăng nhanh chóng, và điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn đến tâm lý và sự phát triển của trẻ. Tại TP. Hồ Chí Minh, tình trạng này cũng không ngoại lệ, với nhiều học sinh trung học cơ sở đang phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến cân nặng.

1.1. Tình hình thừa cân béo phì ở học sinh trung học cơ sở

Theo số liệu từ Bộ Y tế, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh THCS tại TP. Hồ Chí Minh đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ này cao hơn ở các khu vực đô thị so với nông thôn, cho thấy sự ảnh hưởng của lối sống hiện đại và chế độ dinh dưỡng không hợp lý.

1.2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cân béo phì

Có nhiều yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh, bao gồm chế độ ăn uống không hợp lý, thiếu hoạt động thể chất, và các yếu tố tâm lý xã hội. Việc tiêu thụ thực phẩm nhanh, đồ uống có đường và lối sống ít vận động là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

II. Các yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân béo phì của học sinh

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân, béo phì của học sinh trung học cơ sở. Những yếu tố này không chỉ bao gồm yếu tố cá nhân mà còn liên quan đến gia đình, nhà trường và môi trường xã hội.

2.1. Yếu tố gia đình và thói quen ăn uống

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen ăn uống của trẻ. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em có cha mẹ có thói quen ăn uống không lành mạnh thường có nguy cơ cao hơn về thừa cân, béo phì.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường học đường

Môi trường học đường cũng ảnh hưởng lớn đến tình trạng thừa cân, béo phì. Các trường học có chương trình giáo dục dinh dưỡng và thể dục thể thao tốt có thể giúp giảm tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh.

2.3. Tác động của hoạt động thể chất

Thiếu hoạt động thể chất là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì. Việc khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động thể thao và vận động hàng ngày là rất cần thiết.

III. Hậu quả của tình trạng thừa cân béo phì đối với sức khỏe học sinh

Tình trạng thừa cân, béo phì không chỉ ảnh hưởng đến ngoại hình mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Học sinh bị thừa cân có nguy cơ cao mắc các bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch và các vấn đề về tâm lý.

3.1. Nguy cơ mắc bệnh mãn tính

Theo nghiên cứu, học sinh bị thừa cân có nguy cơ cao mắc các bệnh như tiểu đường loại 2, bệnh tim mạch và các vấn đề về hô hấp. Những bệnh này có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng học tập của trẻ.

3.2. Tác động đến tâm lý và xã hội

Học sinh bị thừa cân thường gặp phải các vấn đề về tâm lý như tự ti, trầm cảm và lo âu. Điều này có thể dẫn đến sự cô lập xã hội và ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của trẻ.

IV. Giải pháp phòng chống thừa cân béo phì cho học sinh

Để giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh, cần có những giải pháp đồng bộ từ gia đình, nhà trường và xã hội. Việc giáo dục dinh dưỡng và khuyến khích hoạt động thể chất là rất quan trọng.

4.1. Giáo dục dinh dưỡng cho học sinh

Giáo dục dinh dưỡng là một trong những giải pháp quan trọng để giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của chế độ ăn uống lành mạnh. Các chương trình giáo dục dinh dưỡng nên được triển khai tại các trường học.

4.2. Khuyến khích hoạt động thể chất

Khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động thể chất là rất cần thiết. Các trường học nên tổ chức các hoạt động thể thao và tạo điều kiện cho học sinh tham gia.

4.3. Vai trò của gia đình trong việc phòng chống béo phì

Gia đình cần đóng vai trò tích cực trong việc hình thành thói quen ăn uống và hoạt động thể chất cho trẻ. Việc cùng nhau tham gia các hoạt động thể chất có thể tạo ra môi trường tích cực cho trẻ.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong nghiên cứu thừa cân béo phì

Tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh trung học cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố tác động và đề xuất các giải pháp hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp và giáo dục dinh dưỡng trong việc giảm tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh.

5.2. Đề xuất chính sách phòng chống thừa cân béo phì

Cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội để giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh. Các chương trình giáo dục dinh dưỡng và thể dục thể thao cần được triển khai rộng rãi.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh một số yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân béo phì của học sinh trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh năm học 2017 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 là chương tổng quan bao gồm các mục: lý do, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi, phương pháp, ý nghĩa của nghiên cứu, kết cấu luận văn. - Chương 2 là chương cơ sở lý thuyết bao gồm: các lý thuyết nền tảng, các nghiên cứu trước, tình trạng thừa cân, béo phì, khung nghiên cứu đề xuất. - Chương 3là chương phương pháp nghiên cứu bao gồm: thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng, các biến trong mô hình và phương pháp xử lý dữ liệu. - Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu gồm quá trình xử lý dữ liệu, phân tích và thảo luận kết quả xử lý dữ liệu, kiểm định mô hình nghiên cứu, từ đó kết luận về giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu.

- Chương 5 trình bày kết luận chung về kết quả nghiên cứu. Đề xuất các góp ý chính sáchnhằm phòng chống thừa cân, béo phì ở HS THCS. Đồng thời nêu ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu. Nêu các đóng góp của kết quả nghiên cứu, những mặt hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2.1 GIỚI THIỆU Chương 2 tổng hợp các khái niệm, quan điểm và các nghiên cứu trước có liên quan đến thừa cân, béo phì. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các thang đo của luận văn.2 KHÁI NIỆM THỪA CÂN, BÉO PHÌ 2.1 Khái niệm Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006) cho rằng thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ. Thuật ngữ béo phì “Obesity” được Noah Biggs sử dụng chính thức trong Y học vào năm 1651.

Obesity là một danh từ của Obese, nguồn gốc Latin là Obesus, nghĩa là béo, bụ bẫm.2 Phân loại béo phì 2.1 Phân loại béo phì theo sinh bệnh học Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên. Theo Jean Michel Lecerf (2001), Nguyễn Thị Lâm (2002), Organisation mondiale de la Santé (2003) cho rằng các bệnh lý liêu quan: Do nguyên nhân nội tiết; Do suy giáp trạng, thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần; Do cường vỏ thượng thận, có thể do tổn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp; Do thiếu hormon tăng trưởng, thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn; Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng, thường xuất hiện sau dậy thì, người béo phì có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trứng kèm theo; Béo phì trong thiểu năng sinh dục; Béo phì do các bệnh về não, tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh, các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì.2 Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì Theo Organisation mondiale de la Sante (2010) và Đỗ Thị Kim Liên, Nghiêm Nguyệt Thu và cs (2002) đã phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì thành 4 nhóm sau: (1) Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên), là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ; (2) Béo phì bắt đầu ở người lớn, là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường; Béo phì xuất hiện sớm, là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi; Béo phì xuất hiện muộn, là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi.3 Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu Nguyễn Thị Lâm (2002),Organisation mondiale de la Santé (2003) đã phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫugồm: Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android), là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng; Béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà - thể Gynoid) là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của béo phì.

Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng Insulin máu, rối loạn Lipit máu, không dung nạp Glucose hơn so với béo đùi.4 Một số phân loại béo phì khác Caterson & Gill (2002), Brown, Kelly và Summerbell(2007) đã nghiên cứu và phân loại thêm một số béo phì khác là: Béo phì do sử dụng thuốc, sử dụng corticoit liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì; Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi, trẻ béo phì có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em; Trẻ thừa cân và thừa mỡ, thừa mỡ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhưng không thừa cân (rất ít trẻ thuộc nhóm này) và thừa cân nhưng không thừa mỡ.3 Tình hình béo phì trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình thừa cân, béo phì trên thế giới Tính đến năm 2015 toàn thế giới có 2,2 tỉ người (chiếm 30% dân số thế giới) hoặc thừa cân hoặc béo phì. Số người béo phì đang tăng lên hơn gấp đôi tại 73 quốc gia và đang tăng mạnh trên toàn thế giới. Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới với tỉ lệ béo phì ở trẻ em và thanh niên với 13%. Việt Nam và Bangladesh là hai quốc gia có tỉ lệ người trưởng thành béo phì thấp nhất thế giới, ở mức 1%.

Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có tỉ lệ trẻ em béo phì cao nhất thế giới, lần lượt là 15,3% và 14,4%. Mỹ và Trung Quốc là hai nước dẫn đầu về tỉ lệ người trưởng thành béo phì, lần lượt là 79,4% và 57,3%. Mặc dù tỉ lệ béo phì ở trẻ em vẫn thấp hơn so với ở người lớn, tuy nhiên tỉ lệ này đã tăng với tốc độ nhanh hơn. Năm 2015 có khoảng 4 triệu ca tử vong liên quan tới những trường hợp có chỉ số khối cơ thể (BMI) vượt quá mức 24,5, chỉ số cho thấy tình trạng thừa cân ở người.

Điều đáng lo ngại là sự gia tăng thừa cân, béo phì ở lứa tuổi trẻ em trên phạm vi toàn cầu với tỷ lệ trung bình hàng năm là 10%. Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 cuộc điều tra cắt ngang về thừa cân, béo phì của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì (35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân. Tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% (CI 95%: 3,2% - 5,2%) năm 1990 lên 6,7% (CI 95%: 5,6% - 7,7%) vào năm 2010. Với xu hướng này thì dự kiến đến năm 2020 sẽ có 9,1% (CI 95%: 7,3% - 10,9%), tương đương với khoảng 60 triệu trẻ em bị thừa cân, béo phì.

Ở Châu Á, tuy tỷ lệ thừa cân, béo phì không cao như Châu Phi, nhưng số lượng trẻ bị thừa cân, béo phì thì rất cao (tăng từ 13 triệu trẻ em năm 1990 lên 18 triệu năm 2010), cao nhất trong 3 Châu lục. Những nghiên cứu của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho thấy trẻ em Châu Á chiếm 50% tỷ lệ béo phì ở cùng độ tuổi trên toàn thế giới năm 2016, tỷ lệ này là 25% ở Châu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Số lượng và tỷ lệ béo phì trên thế giới năm 2016 Nguồn: cafebiz, 2017 2.2 Tình hình thừa cân, béo phì tại Việt Nam Ở Việt Nam, thừa cân, béo phì đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng. Có nhiều đề tài của các tác giả, các Viện đã nghiên cứu về tình trạng thừa cân, béo phì đối với trẻ em có độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi như: Nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu (2001) tại quận Đống Đa của thành phố Hà Nội đối với HS từ 6 đến 11 tuổi là 9,9%.

Nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Liên và ctg (2002) về diễn biến tình trạng thừa cân, béo phì của HS Hà Nội từ 1995 – 2000 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của HS nam đều cao hơn HS nữ ở tất cả các nhóm tuổi. Đồng thời kết quả nghiên cứu có tỷ lệ thừa cân, béo phì giảm dần từ nhóm 11 tuổi đến 14 tuổi.Lê Thị Hải (2002) nghiên cứu về HS từ 6 đến 11 tuổi ở nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 4,1%. Cao Thị Yến Thanh và ctg (2004) đã nghiên cứu tại thành phố Buôn Ma Thuột cho biết tỷ lệ thừa cân, béo phì là 10,4% LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đối với HS 6 đến 11 tuổi. Năm 2005, điều tra toàn quốc ở đối tượng từ 25 – 64 tuổi tại 8 vùng sinh thái thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì (BMI >23) là 16,3%, trong đó 9,7% thừa cân, 6,2% béo phì độ I và 0,4% béo phì độ II.

Tỷ lệ thừa cân, béo phì gia tăng theo tuổi, ở nữ cao hơn ở nam, thành thị cao hơn ở nông thôn. Các yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì là khẩu phần ăn giàu thức ăn động vật, thói quen ăn ở ngoài gia đình, tăng sử dụng thức ăn nhanh, lạm dụng rượu, bia và ít vận động. Trần Thị Phúc Nguyệt nghiên cứu tại nội thành thành phố Hà Nội ở trẻ em từ 4 – 6 tuổi cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 4,9%, ở trẻ trai là 6,1% và trẻ gái là 3,8%. Nguyễn Điểm (2007) đã nghiên cứu tình trạng béo phì và các yếu tố nguy cơ ở trẻ em từ 6 - 11 tuổi ở tỉnh Bình Định với mẫu 2967 HS, tỷ lệ béo phì chung của học sinh là 2.93%, tỷ lệ béo phì cao nhất độ tuổi 9 (4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ