Chương 1: Mối quan hệ của phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 1.1 Các thước đo phát triển tài chính Phát triển tài chính được thể hiện qua sự phát triển của hệ thống tài chính. Phát triển tài chính theo chiều sâu có nghĩa là tích lũy các tài sản tài chính nhanh hơn tích lũy các tài sản phi tài chính (Kitchen, 1995). Một hệ thống tài chính phát triển đầy đủ thường bao gồm nhiều loại tổ chức, công cụ và thị trường tài chính khác nhau như chúng ta thường thấy tại các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây. Tất nhiên, đây không phải là một hệ thống mang tính chất tĩnh, mà ngược lại, là hệ thống thay đổi liên tục với sự ra đời của các loại tổ chức và công cụ tài chính mới.
Phát triển tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu như sự gia tăng khối lượng tài sản tài chính, lưu lượng di chuyển vốn, sự phát triển của các tổ chức tài chính, sự vững chắc của cơ sở hạ tầng tài chính, và tín dụng cho khu vực tư nhân. Có rất nhiều thước đo để đo lường mức độ phát triển tài chính như: - Tỷ lệ của tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP và so với tổng tín dụng; - Độ sâu tài chính [M2(M3)/GDP]: Cho biết quy mô của khu vực trung gian tài chính so với nền kinh tế; - Số lượng vốn hóa của thị trường tài chính; - Biên lãi suất (interest margin); - Vai trò tương đối của các ngân hàng thương mại so với ngân hàng trung ương; - Chỉ số tự do hóa khu vực tài chính, ngân hàng (Freedom in Banking and Finance index) v. Trên thực tế các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thước đo trên một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện nghiên cứu của mình. Trong nghiên cứu của Goldsmith (1969) đã sử dụng thước đo mức độ phát triển tài chính là tỷ lệ tài sản của trung gian tài chính so với GDP, ngụ ý rằng sự phát triển của hệ thống tài chính thì tỷ lệ thuận với sự phân bổ và chất lượng của các dịch vụ tài chính.
Phát triển từ nghiên cứu của Goldsmith (1969) thì hai nhà kinh tế là King và Levine (1993) đã đưa ra bốn thước đo phát triển tài chính bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LLY: Tỷ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP. Nợ thanh khoản là thước đo khái quát cung tiền (M3) bao gồm tiền mặt, tài khoản ngân hàng và tài khoản ở các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Khi số liệu M3 không có sẵn thì tác giả sử dụng số liệu M2 hẹp hơn trong đó không tính đến tài khoản tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn, cổ phần trong các quỹ đầu tư và thương phiếu ( nợ doanh nghiệp ngắn hạn). Mục đích để đo lường độ sâu tài chính.
BANK: Tỷ số tiền gửi ngân hàng cho khoản tín dụng nội địa so với tiền gửi ngân hàng cộng tín dụng nội địa của ngân hàng trung ương. Mục đích để đánh giá tầm quan trọng vai trò của các tổ chức tài chính. PRIVATE: Tỷ lệ các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân phi tài chính so với tổng mức tín dụng nội địa, đo lường phạm vi tín dụng được chuyển đến khu vực tư nhân. PRIVY: Tỷ lệ các khoản cho vay đối với khu vực tư nhân phi tài chính so với GDP, đo lường mức độ của các dịch vụ tài chính Ngoài ra tác giả Jinzhang, Lanfang Wang và Susheng Wang (2012) cũng dựa trên các thước đo cơ bản để đưa ra các thước đo mức độ phát triển tài chính ở Trung Quốc như sau: (1) Credit là tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trong hệ thống tài chính (các tổ chức ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng) so với GDP, có thể đo độ sâu tổng thể của trung gian tài chính.
(2) Deposit là tỷ lệ tổng tiền gửi trong hệ thống tài chính so với GDP, có thể đo độ lớn tổng thể của các trung gian tài chính (3) Savings là tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình gửi vào hệ thống tài chính so với GDP, xem như là một công cụ quan trọng của phát triển tài chính Trung Quốc trong việc huy động tiết kiệm hộ gia đình. (4) Loan over appro là tỷ lệ đầu tư tài sản cố định được tài trợ bởi các khoản vay trong nước liên quan đến tài trợ bởi ngân sách nhà nước. Đầu tư tài sản cố định từ các nguồn khác nhau bao gồm cả các khoản vay trong nước, chiếm dụng ngân sách nhà nước, đầu tư nước ngoài và tự gây quỹ. Trong số các nguồn, các khoản vay được coi là hiệu quả hơn so tài trợ ngân sách nhà nước về phân bổ vốn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (5) Corporate là tỷ lệ tiền gửi doanh nghiệp/ Tổng số dư tiền gửi của khách hàng trong hệ thống tài chính. Đo lường phát triển tài chính của Trung Quốc thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp. Tóm lại các thước đo mức độ phát triển tài chính rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia chúng ta có thể lựa chọn các thước đo khác nhau.2 Mối quan hệ của phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: Quan điểm “phát triển” về hệ thống tài chính (development hypothesis) mà còn được gọi là quan điểm “tự do mới” coi hệ thống tài chính có một tầm quan trọng đáng kể đối với phát triển kinh tế. Những người theo quan điểm này cho rằng việc không có một hệ thống tài chính phát triển làm hạn chế tăng trưởng kinh tế và do vậy, chính sách nhà nước phải hướng tới khuyến khích sự tăng trưởng của hệ thống tài chính.
Chẳng hạn như các học thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do ở Mỹ mà tiêu biểu là thuyết trọng tiền của Miltol Friedman. Thuyết này cho rằng mức cung tiền tệ là nhân tố quyết đinh đến việc tăng sản lượng quốc gia và do đó ảnh hưởng đến việc làm, giá cả (các biến số của kinh tế vĩ mô). Ngoài ra các nhà kinh tế theo quan điểm tự do mới cũng ủng hộ tự do hóa tài chính. Xu hướng thiên về tự do hóa tài chính là một phần của một xu hướng lớn hơn hướng tới giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nền kinh tế.
Tự do hóa tài chính được cực lực cổ vũ bởi các công trình nghiên cứu có ảnh hưởng của McKinnon (1973) và Shaw (1973). Theo McKinnon và Shaw, áp chế tài chính, thông qua cơ chế buộc các tổ chức tài chính chi trả lãi suất thực thấp và thường có giá trị âm, làm giảm tiết kiệm tài chính tư nhân, qua đó làm giảm các nguồn lực dành để tích luỹ vốn. Nhìn từ góc độ này, thông qua tự do hóa tài chính, các quốc gia đang phát triển có thể kích thích tiết kiệm trong nước và tăng trưởng, đồng thời giảm sự phụ thuộc quá mức vào các dòng vốn nước ngoài. Quan điểm ngược lại thì lại cho rằng hệ thống tài chính chỉ có một vai trò rất nhỏ trong quá trình phát triển của các khu vực sản xuất và rằng hệ thống tài chính chẳng qua chỉ là tạo ra các cơ hội cho khu vực tư nhân kiếm được lợi nhuận hoặc chịu thua lỗ.
Quan điểm “sòng bạc” (casino hypothesis) này về hệ thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài chính cho rằng nhà nước hoàn toàn có thể không cần chú ý tới hệ thống tài chính hoặc thậm chí còn có thể coi đó là có hại cho tăng trưởng và phân phối thu nhập, và vì vậy cần kiềm chế hoặc quốc hữu hóa (Kitchen, 1995). Điển hình là Keynes, ông cho rằng nếu không quản lý tiền thận trọng thì có thể sẽ gây phá hủy nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế. Còn Tobin (1965) đưa ra chính sách khuyến khích đầu tư bằng cách gia tăng lạm phát. Quan điểm “phát triển” coi hệ thống tài chính như là một phương tiện để đi tới một mục đích và mục đích đó chính là phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế lại có nghĩa là đạt được sự kết hợp thỏa đáng giữa tăng trường và phân phối thu nhập đầu người. Nếu không đạt được mục tiêu này thì hệ thống tài chính không thể tạo ra một tác động tích cực ròng nào. Trong trường hợp xấu nhất, hệ thống tài chính còn gây ra tình trạng sử dụng nguồn lực không hợp lý, dẫn tới lạm phát và tình trạng vay nợ chồng chất mà không tạo ra được phương tiện trả nợ, gây khủng hoảng và sụp đổ kinh tế. Điều này đúng với cả việc sử dụng tài chính trong nước lẫn nước ngoài.
Trong những điều kiện như vậy, tài chính trở thành một gánh nặng làm hạn chế tăng trưởng kinh tế, hoặc thậm chí trở thành một loại chi phí làm giảm bớt thu nhập quốc gia. Thực tế là phần lớn các khoản vay ngoại biên của các nước đang phát triển trong những năm 1970 đã không được sử dụng có hiệu quả, và tại một số nước, nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ việc đi vay đó đã dẫn tới việc nguồn lực quốc gia bị tổn thất. Do hậu quả của việc sử dụng tài chính là mang tính không chắc chắn, nên việc huy động và sử dụng tài chính của các quốc gia phải chịu một mức độ rủi ro nhất định. Mặc dù mang tính rủi ro như vậy, quan điểm phát triển coi hệ thống tài chính như là một đầu vào cần thiết cho quá trình phát triển và do vậy, là một loại rủi ro cần phải chấp nhận.
Phải mất một thời gian tương đối dài các nhà kinh tế phát triển mới nhận thức được vai trò quan trọng của tài chính trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, việc có đủ tài chính và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính chưa phải là đủ cho tăng trưởng kinh tế. Trái lại, chúng ta chỉ nên xem đó như là một trong số các đầu vào cần thiết cho tăng trưởng kinh tế, ví dụ như: nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, thị trường, trình độ quản lý, công nghệ và năng lực kinh doanh (Kitchen, 1995). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kết luận trên đây xem ra là phù hợp với suy nghĩ của chúng ta, nhưng trên thực tế thì cho tới nay cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của các tổ chức và công cụ tài chính trong quá trình phát triển.
Trên cơ sở của các kết quả nghiên cứu có được, chúng ta không thể trả lời một cách xác đáng câu hỏi: ‘Sự phát triển của khu vực tài chính có những đóng góp gì cho quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia?’ hay ‘Nếu không có phát triển tài chính thì có thể có phát triển kinh tế được không?