CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Khái niệm NSNN Trong thực tiễn, khái niệm NS thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong thời gian nhất định, một bản tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó; nếu chủ thể đó là Nhà nước, thì NS đó được gọi là NSNN. Luật Ngân sách nhà nước năm 2013 đã định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Định nghĩa này phản ánh được nội dung cơ bản của NS, quá trình chấp hành NS, niên độ của NS; đồng thời thể hiện được tính pháp lý của NS, thể hiện quyền chủ sở hữu NS của Nhà nước; thể hiện vị trí, vai trò, chức năng của NSNN.
Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân. trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, phát sinh khi Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Quản lý chu trình NSNN NSNN được Nhà nước quản lý theo năm NS (còn gọi là năm tài chính hay năm tài khóa). Năm NS được hiểu là khoảng thời gian mà hoạt động thu chi NSNN được thực hiện.
Thời điểm bắt đầu và kết thúc năm NS ở các nước có sự khác nhau. Ví dụ: ở Mỹ và Thái Lan, năm NS bắt đầu từ 01/10 đến 30/9 năm sau; ở Nhật, năm NS bắt đầu từ 1/4 đến 31 tháng 3 năm sau. Tại Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc, năm NS trùng khớp với năm dương lịch. Hoạt động NSNN có tính chu kỳ, lặp đi lặp lại hình thành chu trình NS.
Chu trình NS bao gồm: dự toán, chấp hành, quyết toán NS. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chu trình NS hay còn gọi là quy trình NS dùng để chỉ toàn bộ hoạt động của một năm NS kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang NS mới. Như vậy chu trình NS có độ dài hơn năm NS. Xét về mặt nội dung, trong một năm NS cũng đồng thời diễn ra cả 3 khâu: quyết toán năm trước, chấp hành NS, dự toán năm sau.
a) Lập dự toán NS Lập dự toán NS là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý NS. Lập dự toán NS thực chất là lập kế hoạch (dự toán) các khoản thu chi của NS trong một năm NS (hoặc trong giai đoạn NS dự kiến). Kết quả của khâu này là dự toán NS được các cấp có thẩm quyền quyết định. a1) Quá trình lập dự toán NS nhằm mục tiêu sau Trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước là có hạn, cần đảm bảo rằng NS đáp ứng được việc thực hiện các chính sách KTXH.
Phân bổ nguồn lực phù hợp với chính sách ưu tiên của Nhà nước trong từng thời kỳ. Tạo điều kiện cho việc quản lý thu, chi trong khâu thực hiện cũng như việc đánh giá, quyết toán NSNN hữu hiệu. a2) Phương pháp lập dự toán Khuôn khổ kinh tế vĩ mô là điểm khởi đầu của việc lập dự toán NS. Việc lập dự toán NS trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô, dựa trên các giả định thực tế, không tính quá cao các chỉ tiêu về thu NS, ngược lại không tính quá thấp các khoản chi tiêu bắt buộc là hết sức quan trọng để đảm bảo tính khả thi của kế hoạch NS.
a3) Lập NS hàng năm thường được tổ chức thực hiện như sau Cách tiếp cận từ trên xuống dưới, bao gồm: Xác định tổng các nguồn lực sẵn có cho chi tiêu công cộng trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô; Chuẩn bị thông tư hướng dẫn lập NS; Hình thành số kiểm tra về thu, chi cho các bộ, các địa phương, đơn vị phù hợp với chính sách ưu tiên của Nhà nước.; Thông báo số kiểm tra cho các bộ, địa phương, đơn vị. Cách tiếp cận từ dưới lên, bao gồm: Các bộ, địa phương, đơn vị đề xuất NS của mình trên cơ sở các hướng dẫn ở trên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trao đổi, đàm phán, thương lượng: Đàm phán NS giữa các bộ, đơn vị với cơ quan tài chính là quá trình rất quan trọng để xác định dự toán NS cuối cùng trình lên cơ quan lập pháp trên cơ sở đạt được sự nhất quán giữa mục tiêu và nguồn lực sẵn có. a4) Căn cứ lập dự toán NSNN Để dự toán NSNN thật sự trở thành công cụ hữu ích trong điều hành NS, lập dự toán NSNN phải căn cứ vào các nhân tố chủ yếu sau đây: - Nhiệm vụ phát triển KTXH và đảm bảo an ninh, quốc phòng nói chung và nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác ở Trung ương và các cơ quan địa phương.
- Căn cứ vào phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN. - Chính sách chế độ thu NS; tỷ lệ % phân chia các khoản thu và mức bổ sung cho NS cấp dưới (trong năm tiếp theo của thời kỳ ổn định); chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS. - Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KTXH và dự toán NS. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán NS; Thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển KTXH, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN và văn bản hướng dẫn của UBND các cấp: tỉnh, huyện và xã.
- Số kiểm tra về dự toán thu, chi NS nhà nước. - Tình hình thực hiện NSNN của năm trước, đặc biệt là năm báo cáo. b) Chấp hành NS Chấp hành NS là khâu tiếp theo khâu lập NS. Đó là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch NSNN năm trở thành hiện thực.
b1) Mục tiêu của việc chấp hành NSNN - Biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch NS năm từ khả năng, dự kiến thành hiện thực. Từ đó góp phần thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển KTXH của Nhà nước. - Kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn về kinh tế và tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đối với quản lý NSNN, chấp hành NSNN là khâu trọng tâm có ý nghĩa quyết định đến một chu trình NS.
b2) Nội dung tổ chức chấp hành NSNN Tổ chức chấp hành NSNN bao gồm tổ chức thu NSNN và tổ chức chi NSNN. Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu NS quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cuối quý trước. Cơ quan thu bao gồm: Cơ quan thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu NS. Về nguyên tắc, toàn bộ các khoản thu của NSNN phải nộp trực tiếp vào KBNN, trừ một số khoản cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào KBNN theo quy định.
Tổ chức chi NSNN giai đoạn này gồm các khâu: - Phân bổ và giao dự toán chi NS: Các đơn vị dự toán cấp I sau khi nhận được dự toán của cấp trên giao, tiến hành phân bổ và giao dự toán chi NS cho các đơn vị sử dụng NS trực thuộc. Dự toán chi NS bao gồm dự toán chi thường xuyên và dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản. - Lập nhu cầu chi quý: Trên cơ sở dự toán năm được giao, các đơn vị sử dụng NS lập nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng) chi tiết theo các nhóm mục chi gửi KBNN và cơ quan tài chính cuối quý trước để phối hợp thực hiện chi trả cho đơn vị. - Cơ chế kiểm soát NSNN trong quá trình chấp hành NS.
Luật NSNN quy định chỉ có cơ quan thuế và các cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thu mới được phép thu NSNN. Toàn bộ các khoản thu NSNN phải nộp vào KBNN, hạn chế mức thấp nhất qua người trung gian. Luật NSNN quy định chi chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau: Đã có trong dự toán; Đúng chế độ tiêu chuẩn; Được thủ trưởng đơn vị quyết định chi. c) Quyết toán ngân sách Quyết toán NS là khâu cuối cùng trong một chu trình NS.
Quyết toán NS là bảng tổng hợp toàn bộ số thực thu và thực chi trong năm NS vào cuối năm NS. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mục đích của quyết toán NS là việc tổng kết, đánh giá lại toàn bộ quá trình hoạt động thu, chi NS trong một năm NS, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành thu chi trong năm NS đã qua của đơn vị mình cho các cơ quan quản lý cấp trên và các đối tượng liên quan. Yêu cầu đối với báo cáo quyết toán NS: - Số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ. Nội dung báo cáo quyết toán NS phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao (hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép) và chi tiết theo mục lục NS.
- Số liệu trên sổ kế toán của đơn vị phải bảo đảm cân đối và khớp đúng với chứng từ thu, chi NS của đơn vị và số liệu của cơ quan tài chính, KBNN về tổng số và chi tiết. - Mẫu biểu báo cáo quyết toán phải theo quy định của Bộ Tài chính. Phương pháp: Lập quyết toán NS thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên. Với phương pháp này cho phép công tác lập quyết toán NS được thực hiện đầy đủ, chính xác và khách quan, trung thực với tình hình hoạt động thu, chi NS.
Trình tự lập, xét duyệt báo cáo quyết toán NS: Sau khi năm NS kết thúc, các đơn vị dự toán tiến hành lập báo cáo quyết toán theo trình tự sau: - Cuối năm NS, Bộ Tài chính hướng dẫn việc khoá sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán NS theo đúng các nội dung ghi trong dự toán năm được duyệt và theo mục lục NSNN.