Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò là trung tâm kinh tế và du lịch hàng đầu của cả nước, đóng góp quan trọng vào bức tranh tăng trưởng chung của ngành công nghiệp không khói Việt Nam. Giai đoạn 2001 - 2006, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng liên tục từ 2,33 triệu lượt lên 3,60 triệu lượt. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, lượng khách quốc tế năm 2001 đạt hơn 1,22 triệu lượt và đã bứt phá đạt khoảng 2,35 triệu lượt vào năm 2006. Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ của thành phố năm 2006 đạt 13,2%, lần đầu tiên trong 10 năm vượt qua tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa GDP.

Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch thành phố vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn sẵn có. Khi đặt trong tương quan so sánh với các đô thị du lịch trong khu vực như Bangkok (Thái Lan đón 11,52 triệu lượt khách năm 2005) hay Singapore (đón gần 8 triệu khách năm 2005), du lịch thành phố bộc lộ nhiều hạn chế về cơ cấu sản phẩm đơn điệu, giá tour cao hơn từ 20% đến 30% và mức độ thỏa mãn của du khách chưa cao với 89% ý kiến đánh giá thành phố có quá ít điểm tham quan.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để xây dựng một chiến lược tiếp thị toàn diện nhằm khai thác triệt để tài nguyên, nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Huỳnh Thị Bích Vân tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện năm 2007 đã tập trung giải quyết bài toán này. Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận marketing du lịch, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh giai đoạn 2001 - 2006, từ đó hoạch định hệ thống giải pháp Marketing-mix đồng bộ nhằm phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc định hình lại chiến lược định vị điểm đến, thúc đẩy mức chi tiêu bình quân của du khách vượt mức 107,7 USD/ngày, kéo dài thời gian lưu trú và tạo sinh kế bền vững cho hơn 20.000 lao động trực tiếp trong ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp thị dịch vụ hiện đại, trọng tâm là mô hình Marketing Mix 4P truyền thống (Product, Price, Place, Promotion) kết hợp mở rộng theo đặc thù dịch vụ du lịch (People, Packaging, Programming, Partnership). Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, dự báo nhu cầu du khách nhằm tổ chức cung ứng các dịch vụ tối ưu, thỏa mãn động cơ trải nghiệm cá nhân đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của điểm đến.

Khung lý thuyết của luận văn phân tích sâu sắc bốn đặc tính cơ bản của sản phẩm du lịch:

  • Tính vô hình: Dịch vụ không thể nhìn thấy, nếm thử hay đo lường trước khi tiêu dùng, đòi hỏi marketing phải cụ thể hóa hình ảnh qua các kênh xúc tiến trực quan.
  • Tính không thể tách rời: Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, sự hiện diện và tương tác của du khách cùng nhân viên trực tiếp tạo nên chất lượng sản phẩm.
  • Tính không ổn định: Chất lượng dịch vụ phụ thuộc lớn vào thời gian, địa điểm, tâm lý người phục vụ và trải nghiệm khách hàng.
  • Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể tồn kho hay chuyển nhượng sang ngày hôm sau, tạo ra áp lực quản trị doanh thu theo mùa vụ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng mô hình phân tích môi trường marketing (môi trường vĩ mô PEST, môi trường vi mô và nội bộ) cùng lý thuyết định giá tour du lịch dựa trên phân tích điểm hòa vốn, chi phí biến đổi, chi phí cố định cộng thêm khoản bổ sung lợi nhuận từ 10% đến 40%. Luận văn cũng căn cứ vào các quy định pháp lý nền tảng như Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2006) và Chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi mới, phát triển du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp phong phú:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, niên giám thống kê giai đoạn 2001 - 2006 cùng các tài liệu kinh tế đối chuẩn từ Thái Lan, Singapore, Malaysia, Hồng Kông.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế thông qua bảng câu hỏi chi tiết với quy mô mẫu 300 du khách quốc tế và nội địa tại các điểm du lịch trọng điểm của thành phố như Quận 1, Quận 3, Chợ Bến Thành, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh và Khu phố Tây Phạm Ngũ Lão.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất thuận tiện kết hợp phân tầng theo quốc tịch và hình thức chuyến đi (đi tour trọn gói hoặc du lịch tự túc). Phương pháp này được lựa chọn vì tính linh hoạt, khả năng tiếp cận trực tiếp du khách đang trải nghiệm dịch vụ tại các nút giao thông và điểm tham quan chính.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng, so sánh đối chuẩn (benchmarking) và phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn 2006 - 2007 nhằm phục vụ định hướng phát triển đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích toàn diện hoạt động kinh doanh và tiếp thị du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2006 mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng nguồn khách quốc tế duy trì mức khả quan nhưng cơ cấu thị trường có sự phân hóa mạnh mẽ. Năm 2005, thành phố đón khoảng 2 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng 27% so với năm 2004, trong đó đường hàng không chiếm ưu thế tuyệt đối với 87%, đường bộ và đường biển chiếm 13%. Các thị trường gửi khách tăng trưởng nhanh nhất gồm có Nga (tăng 54%), Trung Quốc (tăng 38%), Hàn Quốc (tăng 30%) và Singapore (tăng 27%).

Thứ hai, hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển nhanh về số lượng nhưng thiếu hụt phân khúc cao cấp phục vụ khách MICE. Tính đến tháng 11/2006, thành phố có 872 cơ sở lưu trú với 22.000 phòng, trong đó có 171 khách sạn xếp hạng 1-5 sao với 11.028 phòng. Tuy nhiên, khối khách sạn cao cấp 3-5 sao chỉ có 38 cơ sở với 6.447 phòng, dẫn đến tình trạng quá tải và thiếu phòng nghiêm trọng vào mùa cao điểm.

Thứ ba, cơ cấu chi tiêu của du khách chưa cân đối và thời gian lưu trú còn ngắn. Mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế đạt 107,7 USD/ngày. Trong đó, chi phí di chuyển chiếm tỷ trọng cao nhất với 32%, chi phí lưu trú chiếm 21,8%, chi phí ăn uống và mua quà lưu niệm chiếm khoảng 15%. Các khoản chi dành cho hoạt động vui chơi giải trí, trải nghiệm văn hóa nghệ thuật chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn dưới 10%. Thời gian lưu trú của khách đi tour tại thành phố chỉ đạt tối đa 4 ngày, trong khi khách tự do đạt khoảng 9,1 ngày.

Thứ tư, nguồn nhân lực ngành du lịch còn thiếu hụt nghiêm trọng về trình độ chuyên môn cao. Trong tổng số 20.000 lao động toàn ngành, trình độ đại học chỉ chiếm 2,8% (540 người), trình độ trung cấp - cao đẳng chiếm 5,7% (1.144 người), trong khi lao động chưa qua đào tạo chính quy chiếm tới 58,4% (11.691 người). Về ngoại ngữ, nhân lực biết tiếng Anh chiếm đa số với 11.000 người, thiếu hụt lớn hướng dẫn viên tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Đức.

Thứ năm, kết quả khảo sát sơ cấp chỉ ra nhiều điểm nghẽn trong công tác Marketing-mix: 89% du khách đánh giá thành phố có quá ít điểm tham quan hấp dẫn; 69% nhận xét cước phí bưu chính viễn thông quá đắt đỏ; kênh phân phối gián tiếp qua đại lý trung gian nước ngoài chiếm 57,2%, trong khi kênh phân phối trực tiếp qua internet chỉ chiếm 25,8%; giá tour tại thành phố cao hơn từ 20% đến 30% so với các điểm đến trong khu vực.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu thực chứng, các chỉ số có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh cơ cấu chi tiêu giữa Thành phố Hồ Chí Minh (107,7 USD/ngày) với Bangkok và Singapore, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu trình độ học vấn nhân lực nhằm làm nổi bật khoảng cách năng lực cạnh tranh. Bảng đối chuẩn giá tour cho thấy sự chênh lệch bất lợi 20% đến 30% của du lịch thành phố bắt nguồn từ chuỗi cung ứng thiếu tính gắn kết.

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa các mắt xích hàng không, khách sạn, lữ hành và đơn vị quản lý điểm đến. Trong khi Thái Lan thiết lập liên minh giảm giá toàn diện giữa các hãng hàng không và chuỗi khách sạn sau các đợt khủng hoảng để kích cầu, doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn hoạt động phân tán, cạnh tranh giảm giá không lành mạnh vào mùa thấp điểm và tăng giá cục bộ vào mùa lễ hội.

Bên cạnh đó, việc chưa khai thác xứng tầm tài nguyên du lịch sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ (khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận) và mạng lưới sông rạch nội đô khiến sản phẩm du lịch thành phố phụ thuộc quá nhiều vào các di tích chiến tranh cũ như Địa đạo Củ Chi hay Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. Chiến lược xúc tiến còn thiếu tính chuyên nghiệp, ngân sách phân tán và chưa tận dụng tối đa sức mạnh của thương mại điện tử trực tuyến.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và định hướng phát triển đến năm 2015, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp Marketing-mix đồng bộ:

  • Tái cấu trúc và nâng cấp danh mục sản phẩm du lịch (Product): Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành lớn (Saigontourist, Vietravel, BenThanh Tourist) xây dựng các tuyến du lịch đường sông Sài Gòn - Đồng Nai, quy hoạch khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Cần Giờ, chuẩn hóa 41 điểm mua sắm đạt chuẩn du lịch và mở rộng không gian văn hóa ẩm thực Chợ Lớn Quận 5. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của khách đi tour từ 4 ngày lên 6 ngày vào năm 2012, tăng tỷ lệ khách quay lại lần thứ hai lên trên 15%.

  • Hoàn thiện chính sách định giá và bình ổn thị trường (Price): Hiệp hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thiết lập liên minh giá giữa các hãng hàng không, hệ thống lưu trú và công ty lữ hành nhằm tung ra các gói tour trọn gói giảm từ 15% đến 20% trong mùa thấp điểm. Áp dụng kỹ thuật định giá linh hoạt theo mùa vụ và định giá tâm lý, hạn chế triệt để tình trạng chèo kéo, nâng giá tự phát tại khu vực Quận 1 và Quận 3 trong giai đoạn 2008 - 2010.

  • Đa dạng hóa mạng lưới phân phối và đẩy mạnh thương mại điện tử (Place): Các công ty lữ hành đầu tư hạ tầng công nghệ, nâng cấp website bán tour trực tuyến đa ngôn ngữ, phấn đấu tăng tỷ trọng phân phối trực tiếp qua internet từ 25,8% lên 45% vào năm 2015. Đồng thời, chủ động mở rộng văn phòng đại diện và hợp tác bán tour gián tiếp tại các thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức và Hoa Kỳ.

  • Chuyên nghiệp hóa công tác xúc tiến quảng bá và tổ chức sự kiện (Promotion): Trung tâm Xúc tiến Du lịch thành phố gia tăng ngân sách quảng bá hình ảnh "Hòn ngọc Viễn Đông", duy trì thường niên Hội chợ Du lịch Quốc tế ITE, Lễ hội Trái cây Nam Bộ tại Suối Tiên và Lễ hội Đường hoa Nguyễn Huệ. Tăng cường tổ chức các đoàn Famtrip dành cho báo chí quốc tế và đẩy mạnh tiếp thị số nhằm đạt mục tiêu đón 4 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2015.

  • Chuẩn hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (People): Sở Du lịch liên kết với Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và các trường chuyên ngành tổ chức đào tạo chuẩn hóa kỹ năng quản trị lữ hành, lễ tân và ngoại ngữ hiếm. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động có trình độ đại học từ 2,8% lên 15% vào năm 2015, đào tạo hơn 1.000 hướng dẫn viên thành thạo tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Đức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp tiếp thị trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Du lịch, Sở Xây dựng, Viện Nghiên cứu Phát triển): Khai thác các căn cứ khoa học và số liệu thực chứng để hoạch định chính sách quy hoạch hạ tầng giao thông, phát triển không gian du lịch sinh thái và ban hành các quy chế quản lý giá dịch vụ đô thị.

  • Ban lãnh đạo và nhà quản trị tại các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn: Vận dụng mô hình Marketing Mix 4P/8P để tái cấu trúc sản phẩm tour, tối ưu hóa chính sách định giá điểm hòa vốn, mở rộng kênh phân phối trực tuyến và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch MICE.

  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh và Marketing: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thị trường dịch vụ, phân tích môi trường PEST/SWOT và đối chuẩn du lịch quốc tế giai đoạn chuyển giao kinh tế 2001 - 2006.

  • Học viên cao học và sinh viên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành: Tham khảo phương pháp xây dựng bảng câu hỏi khảo sát du khách, kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê mô tả và cách thức chuyển hóa lý thuyết marketing học thuật thành hệ thống giải pháp ứng dụng thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là hạn chế lớn nhất của sản phẩm du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn nghiên cứu?

Hạn chế lớn nhất là sự đơn điệu và nghèo nàn về sản phẩm tham quan giải trí. Khảo sát thực tế chỉ ra 89% du khách nhận xét thành phố có quá ít điểm đến hấp dẫn ngoài các di tích chiến tranh quen thuộc. Các dịch vụ ban đêm, tour trải nghiệm sông rạch và du lịch sinh thái Cần Giờ chưa được đầu tư bài bản, khiến thời gian lưu trú của khách đi tour chỉ đạt tối đa 4 ngày.

Vì sao giá tour tại Thành phố Hồ Chí Minh lại cao hơn các nước láng giềng từ 20% đến 30%?

Sự chênh lệch giá xuất phát từ việc thiếu liên kết chuỗi giá trị giữa hàng không, khách sạn và đơn vị lữ hành, khiến chi phí đầu vào không được tối ưu hóa như Thái Lan hay Malaysia. Ngoài ra, chi phí cước viễn thông đắt đỏ với 69% du khách phàn nàn cùng mức thuế phí cao làm tăng giá thành tour, làm suy giảm lợi thế cạnh tranh của thành phố.

Cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế tại thành phố có đặc điểm gì đáng lưu ý?

Mặc dù mức chi tiêu bình quân đạt 107,7 USD/ngày, dòng tiền lại tập trung chủ yếu vào các dịch vụ bắt buộc: phương tiện đi lại chiếm 32%, dịch vụ phòng lưu trú chiếm 21,8%, ăn uống và quà lưu niệm chiếm khoảng 15%. Các hoạt động vui chơi giải trí, thưởng thức văn hóa nghệ thuật chiếm tỷ trọng rất thấp dưới 10% do thiếu các trung tâm giải trí đẳng cấp quốc tế.

Thực trạng chất lượng nhân lực ngành du lịch thành phố được phản ánh qua những con số nào?

Trong quy mô khoảng 20.000 lao động toàn ngành, chất lượng nhân lực phân hóa rất lớn khi trình độ đại học chỉ chiếm 2,8% (540 người), trong khi lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 58,4% (11.691 người). Sự mất cân đối về ngoại ngữ thể hiện rõ khi có 11.000 người biết tiếng Anh nhưng lại thiếu trầm trọng hướng dẫn viên có thẻ hành nghề tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Đức.

Định hướng marketing của luận văn đặt mục tiêu gì cho du lịch thành phố đến năm 2015?

Luận văn định hướng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm du lịch hàng đầu cả nước và vươn tầm khu vực Đông Nam Á. Các chỉ tiêu cụ thể gồm: thu hút hơn 4 triệu lượt khách du lịch quốc tế vào năm 2015, nâng thời gian lưu trú lên 6 ngày, gia tăng tỷ trọng đặt tour trực tuyến lên 45% và nâng tỷ lệ nhân sự có trình độ đại học đạt 15%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc lý luận về Marketing Mix và đặc thù của dịch vụ du lịch đô thị trong nền kinh tế thị trường định hướng hội nhập.
  • Phân tích chi tiết bức tranh thực trạng du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2006, làm rõ vị thế điểm đến đón khoảng 2,35 triệu khách quốc tế với mức chi tiêu 107,7 USD/ngày.
  • Nhận diện chính xác các nút thắt cốt lõi cản trở sự bứt phá của ngành: 89% khách đánh giá thiếu điểm tham quan, giá tour cao hơn khu vực 20% - 30% và nhân lực trình độ đại học chỉ chiếm 2,8%.
  • Hoạch định đồng bộ hệ thống 5 nhóm giải pháp Marketing Mix (4P/8P) mang tính khả thi cao, gắn liền lộ trình phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đón hơn 4 triệu khách quốc tế.
  • Đề xuất mô hình phối hợp liên ngành, liên vùng chặt chẽ giữa chính quyền thành phố, cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương lân cận nhằm tạo đòn bẩy phát triển bền vững.

Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và cẩm nang chiến lược giá trị cho việc nâng cao năng lực tiếp thị du lịch đô thị trong giai đoạn đổi mới. Hãy tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng toàn diện các giải pháp marketing thực tế này vào công tác quản trị điểm đến và vận hành doanh nghiệp ngay hôm nay.