CHƯƠNG 1 Trong phần đầu tiên, luận văn trình bày những lập luận nền tảng của Mundell-Fleming với thành tựu lớn nhất là việc đưa cán cân thanh toán vào xem xét hiệu quả của việc thực thi chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm đạt được sự cân bằng bên trong (tổng cung - tổng cầu) và cân bằng bên ngoài (cân bằng trong cán cân thanh toán), cụ thể là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái và mức độ kiểm soát vốn ở mỗi quốc gia. Sau đó, từ mô hình Mundell-Fleming, các nhà khoa học Krugman và Frankel đã phát triển thành lý thuyết bộ ba bất khả thi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về lý thuyết bộ ba bất khả thi như các nghiên cứu của Maurice Obstfeld & Jay C. Jos Jansen (2008), John C.
Bluedorn & Christopher Bowdler (2010). Các nghiên cứu về lý thuyết bộ ba bất khả thi hầu hết đều mang cùng một ý nghĩa, cho thấy con đường phát triển của mỗi quốc gia đều phải tuân theo một quy luật. Đó chính là quy luật đánh đổi giữa các biến trong bộ ba bất khả thi, vì không thể đạt đồng thời cả ba mục tiêu. Chẳng hạn hội nhập tài chính cao hơn, đổi lại ổn định tỷ giá thấp hơn, hoặc độc lập tiền tệ thấp hơn.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đó đều không đề cập đến cách thức làm sao để biết một quốc gia đang lựa chọn cơ chế nào cũng như những ưu tiên của họ trong nỗ lực phát triển đất nước. Từ năm 2008, nhóm tác giả gồm Aizenman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito đã công bố các nghiên cứu về bằng chứng thực nghiệm của lý thuyết bộ ba bất khả thi, cho thấy cách thức lựa chọn và ưu tiên chính sách trong bộ ba bất khả thi của một quốc gia. Một nổi bật khác trong các nghiên cứu của nhóm tác giả này đó là lần đầu tiên mối quan hệ tuyến tính giữa các yếu tố bộ ba bất khả thi được xem xét một cách nghiêm túc, từ đó đưa ra kết luận một cách chắc chắn về sự đánh đổi giữa các yếu tố trong bộ ba bất khả thi là bắt buộc.
Các nghiên cứu này sau đó liên tục được cập nhật dữ liệu và thông tin hàng năm, tạo thành một chuỗi các nghiên cứu đáng tin cậy về bộ ba bất khả thi. Do đó, luận văn được phát triển trên cơ sở sử dụng các kết quả từ các nghiên cứu của nhóm tác giả Aizenman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito về bộ ba bất khả thi. Nhóm tác giả Aizenman, Chinn và Ito đã phát triển ba thước đo để đánh giá mức độ độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính và dựa trên ba thước đo đó để tìm hiểu về sự phát triển theo thời gian của từng chỉ số, cũng như cấu trúc mẫu hình bộ ba bất khả thi sẽ thay đổi như thế nào sau mỗi sự kiện của từng nhóm các quốc gia cũng như nền kinh tế tài chính toàn cầu.
Từ các bằng chứng thực nghiệm, nhóm tác giả đã vạch ra một con đường mới cho chính phủ các nước đang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 phát triển trong việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, các nước đang phát triển, đặc biệt những nước mới nổi đã thể hiện một xu hướng mới khi đạt tới trạng thái trung gian giữa ba chính sách mục tiêu: hội nhập tài chính nhưng không quên kiểm soát vốn, độc lập tiền tệ vừa phải và cơ chế tỷ giá biến động trong một biên độ mục tiêu cho phép bằng cách tăng cường kho dự trữ ngoại hối như một công cụ để quản lý tỷ giá.1 Các chỉ số bộ ba bất khả thi (trilemma indexes) và mô hình “đồ thị kim cương” và của Aizenman, Chinn và Ito 2.1 Các chỉ số bộ ba bất khả thi (trilemma indexes) 2.1 Độc lập tiền tệ (MI) Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường dựa trên phần bù của mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở. Lãi suất thị trường tiền tệ được sử dụng. Chỉ số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng: corr(ii, ij)-(-1) MI = 1- 1-(-1) Trong đó: i: quốc gia sở tại, j : quốc gia cơ sở.
Với công thức như trên, giá trị tối đa, tối thiểu tương ứng là 1 và 0. Chỉ số có giá trị càng cao phản ánh độc lập về chính sách tiền tệ càng cao. Ở đây, quốc gia cơ sở được định nghĩa như là quốc gia mà chính sách tiền tệ của quốc gia sở tại có mối liên kết gắn bó, định nghĩa của Shambaugh (2005). Những quốc gia cơ sở như là nước Úc, Bỉ, Pháp, Đức, Ấn Độ, Malaysia, Nam Phi, Anh và Hoa Kỳ.
Một số quốc gia cơ sở được xác định theo cơ sở dữ liệu có sẵn của Sambaugh, những quốc gia cơ sở còn lại khác được xác định dựa trên báo cáo hằng năm về cơ chế tỷ giá và hạn chế ngoại hối của IMF (Annual Report on Exchange Restrictions - AREAER) và CIA Factbook. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Ổn định tỷ giá (ERS) Mức ổn định của tỷ giá được tính toán là độ lệch chuẩn hằng năm của tỷ giá dựa trên dữ liệu tỷ giá hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở. Độ ổn định tỷ giá nằm giữa giá trị 1 và 0. Giá trị càng cao của chỉ số trên cho thấy sự dịch chuyển ổn định hơn của tỷ giá so với đồng tiền của quốc gia cơ sở.01 + |∆(log(exch_rate)| Nếu chỉ đơn thuần áp dụng công thức này thì chỉ số đo lường độ ổn định tỷ giá có xu hướng rất nhỏ.
Điều này có nghĩa là nó sẽ phóng đại mức độ linh hoạt của tỷ giá, đặc biệt là khi tỷ giá dao động trong một biên độ hẹp nhưng lại không được định giá lại thường xuyên. Do đó, một ngưỡng giá trị cho tỷ giá được đặt ra là nếu mức độ dao động hàng tháng của tỷ giá hối đoái trong biên độ +/-0.33% thì tỷ giá được xem là cố định và ERS=1.3 Hội nhập/ mở cửa tài chính (KAOPEN) Đo lường mức độ của việc kiểm soát tài khoản vốn là việc khó khăn. Mặc dù nhiều các công cụ đo lường hiện nay mô tả mức độ và cường độ của việc kiểm soát tài khoản vốn, nhưng dường như các công cụ đo lường như vậy chưa phản ánh đầy đủ sự phức tạp của việc kiểm soát vốn trong thực tế. Để đo lường độ mở tài chính, Chin và Ito (2006, 2008) đã phát triển chỉ số độ mở tài khoản, ký hiệu là KAOPEN.
KAOPEN được dựa trên AREAER. KAOPEN cho biết sự hiện diện của đa tỷ giá, những hạn chế các giao dịch tài khoản vãng lai, những hạn chế các giao dịch tài khoản vốn, và yêu cầu của việc từ bỏ nguồn thu xuất khẩu. Chỉ số KAOPEN được tiêu chuẩn hóa trong khoảng biến thiên giữa 0 và 1. Giá trị KAOPEN càng cao cho thấy mức độ hội nhập tài chính càng sâu.
Chỉ số này được sử dụng trên 180 quốc gia (không bao gồm Mỹ) trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2009. Phụ lục 1 trình bày chi tiết hơn những dữ liệu sẵn có. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Mô hình “đồ thị kim cương” Chuẩn mực ban đầu của lý thuyết bộ ba bất khả thi đã không phản ánh vai trò của dự trữ ngoại tệ. Aizenman, Chinn và Ito đã xem xét việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi trong mối tương quan với dự trữ ngoại hối (tỷ lệ trên GDP).
Lý do nhân tố dự trữ ngoại tệ được lựa chọn là vì chính nhân tố này đã tạo ra một tấm đệm vô hình giúp các quốc gia EMG có thể duy trì một mức độc lập tiền tệ cho phép, bằng cách áp dụng một chế độ tỷ giá trung gian, tức cơ chế tỷ giá linh hoạt có quản lý. Nhóm tác giả đã xây dựng “đồ thị kim cương” bằng cách thêm vào khuôn khổ ba nhân tố của bộ ba bất khả thi – gồm độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái và hội nhập tài chính – một yếu tố đo lường là dự trữ ngoại tệ (IR/GDP). Những tiêu chuẩn này dao động từ 0 đến 1. Cấu hình của mỗi quốc gia được tổng hợp bằng đồ thị “kim cương tổng quát”, trong đó có bốn đỉnh đo lường về độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái, tỷ lệ IR/GDP và hội nhập tài chính.
Gốc trung tâm trong mỗi đồ thị đại diện cho mức độ độc lập tiền tệ bằng 0, tỷ giá thả nổi hoàn toàn, không có dự trữ ngoại hối và tự túc tài chính. (Xem minh họa ở hình 2.1 Đồ thị kim cương ở nhóm các nước mới nổi Hình 2.1 Đồ thị kim cương ở nhóm các Độcớlập tiền ới tệ ổi 1 Hội nhập tài chính 1 1 Ổn định tỷ giá hối đoái 1971-1980 1981-1990 1991-2000 2001-1006 1 Điểm ở giữa có giá trị 0 Dự trữ ngoại hối (IR/GDP) Nguồn: Aizenman, J. Ito (2008), NBER Working Paper LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân tích các chỉ số bộ ba bất khả thi 2.1 Sự thay đổi các chỉ số bộ ba bất khả thi qua các nhóm quốc gia Việc so sánh các chỉ số này nhằm làm rõ rằng cấu trúc tài chính quốc tế đã phát triển theo thời gian như thế nào. Điều này được thể hiện chi tiết qua các đồ thị kim cương trong phụ lục 2.
Trong nhiều năm, các quốc gia công nghiệp hóa đã đẩy mạnh đi theo hướng tự do hóa tài chính, ổn định tỷ giá hối đoái và giảm dần mức độ độc lập tiền tệ đồng thời hạ thấp quỹ dự trữ ngoại hối. Kết quả mức độ độc lập tiền tệ giảm dần ở nhóm nước công nghiệp hóa chủ yếu có được do các quốc gia sử dụng đồng euro. Khi các quốc gia sử dụng đồng euro bị loại ra khỏi mẫu khảo sát, những quốc gia công nghiệp hóa còn lại dường như không mất đi sự độc lập tiền tệ. Các quốc gia đang phát triển ngày càng hướng tới tỷ giá hối đoái linh hoạt cao hơn, sự hội nhập tài chính sâu hơn và cố gắng duy trì độc lập tiền tệ.
Đối với những quốc gia thị trường mới nổi, cả hai khuynh hướng tỷ giá hối đoái linh hoạt cao hơn và sự hội nhập tài chính sâu hơn rõ ràng hơn so với những quốc gia đang phát triển không phải thị trường mới nổi.