Luận văn thạc sĩ UEH: Các yếu tố ảnh hưởng hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ tại Cà Mau

Luận văn thạc sĩ phân tích ueh các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức trên địa bàn huyện cái, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.7. Cấu trúc của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Chia sẻ tri thức

2.2. Các lý thuyết liên quan đến hành vi chia sẻ tri thức

2.3. Lý thuyết trao đổi xã hội

2.4. Lý thuyết nhận thức xã hội

2.5. Một số nghiên cứu trước về chia sẻ tri thức

2.5.1. Nghiên cứu của Al-Alawi và cộng sự (2007)

2.5.2. Nghiên cứu của Seba và cộng sự (2012)

2.5.3. Nghiên cứu của Radwan Kharabsheh và cộng sự (2012)

2.5.4. Nghiên cứu của Kathiravelu và cộng sự (2014)

2.6. Đề xuất mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.2. Kết quả nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu định lượng

3.3.1. Thiết kế mẫu

3.3.2. Thiết kế bảng hỏi

3.3.3. Phương pháp phân tích số liệu

3.4. Thu thập dữ liệu

3.5. Xử lý dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Phân tích thống kê mô tả

4.2. Kết quả phân tích Cronbach‟s alpha

4.2.1. Kết quả phân tích Cronbach‟s alpha của các biến độc lập

4.2.2. Kết quả phân tích Cronbach‟s alpha của biến phụ thuộc

4.3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3.1. Kết quả phân tích nhân tố khám phá đối với các biến độc lập

4.3.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá đối với biến phụ thuộc

4.4. Kiểm định mô hình và các giả thuyết

4.4.1. Xem xét ma trận tương quan tuyến tính giữa các biến

4.4.2. Đánh giá sự phù hợp của mô hình

4.4.3. Kiểm định sự phù hợp của mô hình

4.4.4. Kết quả phân tích hồi quy bội và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố

4.4.5. Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết

4.4.6. Kiểm định giả thuyết

4.4.7. Kiểm định sự khác biệt về hành vi chia sẻ tri thức theo đặc điểm của đối tượng khảo sát bằng T-Test và ANOVA

4.4.8. Kiểm định giới tính

4.4.9. Kiểm định tình trạng công việc

4.4.10. Kiểm định độ tuổi

4.4.11. Kiểm định trình độ học vấn

4.4.12. Kiểm định thâm niên công tác

4.4.13. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Hàm ý quản trị

5.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức

Hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức trên địa bàn huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Tri thức không chỉ là tài sản cá nhân mà còn là tài sản chung của tổ chức. Việc chia sẻ tri thức giúp nâng cao hiệu quả công việc và cải thiện chất lượng phục vụ nhân dân. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chia sẻ tri thức trong các cơ quan nhà nước.

1.1. Ý nghĩa của việc chia sẻ tri thức trong tổ chức

Chia sẻ tri thức không chỉ giúp tăng cường sự hợp tác giữa các cán bộ công chức mà còn tạo ra môi trường làm việc tích cực. Theo nghiên cứu của Blankenship và Ruona (2009), việc chia sẻ tri thức là nền tảng cho quản trị tri thức hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các cơ quan nhà nước cần cải thiện chất lượng phục vụ.

1.2. Tình hình chia sẻ tri thức tại huyện Cái Nước

Tại huyện Cái Nước, việc chia sẻ tri thức giữa các cán bộ công chức vẫn còn hạn chế. Nhiều cán bộ chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc chia sẻ tri thức, dẫn đến tình trạng làm việc độc lập và thiếu sự phối hợp. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và chất lượng phục vụ nhân dân.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức

Nghiên cứu đã xác định được nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức. Các yếu tố này bao gồm giao tiếp, sự tin tưởng, lãnh đạo, công nghệ thông tin và định hướng học hỏi. Mỗi yếu tố đều có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức.

2.1. Giao tiếp và hành vi chia sẻ tri thức

Giao tiếp là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức. Theo nghiên cứu, những cán bộ công chức có khả năng giao tiếp tốt thường có xu hướng chia sẻ tri thức nhiều hơn. Việc tạo ra các kênh giao tiếp hiệu quả sẽ giúp tăng cường sự chia sẻ tri thức trong tổ chức.

2.2. Sự tin tưởng trong môi trường làm việc

Sự tin tưởng giữa các cán bộ công chức là yếu tố then chốt trong việc chia sẻ tri thức. Khi có sự tin tưởng, các cá nhân sẽ cảm thấy an tâm hơn khi chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của mình. Điều này giúp tạo ra một môi trường làm việc tích cực và khuyến khích sự hợp tác.

2.3. Vai trò của lãnh đạo trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức

Lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc tạo ra văn hóa chia sẻ tri thức. Những cán bộ công chức cảm thấy được hỗ trợ và khuyến khích từ lãnh đạo sẽ có xu hướng chia sẻ tri thức nhiều hơn. Việc lãnh đạo thể hiện sự quan tâm đến việc chia sẻ tri thức sẽ tạo động lực cho nhân viên.

III. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp định tính giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức, trong khi phương pháp định lượng được sử dụng để kiểm định các giả thuyết. Dữ liệu được thu thập từ 245 phiếu khảo sát hợp lệ.

3.1. Quy trình nghiên cứu định tính

Quy trình nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm. Qua đó, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức được xác định và phân tích. Kết quả từ nghiên cứu định tính sẽ là cơ sở cho nghiên cứu định lượng.

3.2. Thiết kế bảng hỏi cho nghiên cứu định lượng

Bảng hỏi được thiết kế dựa trên các yếu tố đã xác định từ nghiên cứu định tính. Các câu hỏi được xây dựng theo thang đo Likert 5 mức độ, giúp thu thập thông tin chính xác về hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức. Trong đó, yếu tố giao tiếp có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là lãnh đạo, công nghệ thông tin, sự tin tưởng và định hướng học hỏi. Những kết quả này sẽ được thảo luận chi tiết trong phần này.

4.1. Phân tích thống kê mô tả

Phân tích thống kê mô tả cho thấy sự phân bố của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức. Kết quả cho thấy yếu tố giao tiếp có tỷ lệ cao nhất trong việc thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức.

4.2. Kết quả phân tích hồi quy

Phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố và hành vi chia sẻ tri thức. Kết quả cho thấy yếu tố giao tiếp có hệ số hồi quy cao nhất, cho thấy tầm quan trọng của giao tiếp trong việc thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức.

V. Kết luận và hàm ý quản trị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chia sẻ tri thức giữa các cán bộ công chức là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả công việc. Các yếu tố như giao tiếp, sự tin tưởng và lãnh đạo cần được chú trọng để tạo ra môi trường chia sẻ tri thức. Đề xuất các giải pháp quản trị nhằm nâng cao hành vi chia sẻ tri thức trong các cơ quan nhà nước.

5.1. Đề xuất giải pháp quản trị

Để nâng cao hành vi chia sẻ tri thức, cần xây dựng các chương trình đào tạo về giao tiếp và tạo ra các kênh chia sẻ thông tin hiệu quả. Lãnh đạo cần thể hiện sự quan tâm đến việc chia sẻ tri thức và khuyến khích nhân viên tham gia.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có thể mở rộng ra các địa bàn khác để so sánh và tìm hiểu thêm về hành vi chia sẻ tri thức. Các yếu tố khác như văn hóa tổ chức cũng cần được xem xét để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ công chức trên địa bàn huyện cái nước tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tri thức Nonaka & Takeuchi (1995) cho rằng, tri thức là quá trình sống, lao động, học tập và làm việc của một con người để chứng minh niềm tin của mình về những vấn đề mình cho là đúng đắn. Davenport & Prusak (1998) định nghĩa: Tri thức là tập hợp những kinh nghiệm, giá trị, thông tin và sự hiểu biết sâu sắc của mỗi người khi kết hợp lại với nhau sẽ tạo ra những kinh nghiệm mới và thông tin mới.

Những người có tri thức có khả năng sáng tạo ra được tri thức mới và ứng dụng tri thức đó vào cuộc sống thông qua việc sử dụng đầy đủ các thông tin và dữ liệu kết hợp với khả năng quan sát, phân tích đánh giá, suy luận cùng với ý tưởng và động lực làm việc của con người. Tri thức không chỉ chứa đựng trong các văn bản, tài liệu, kho lưu trữ dữ liệu mà còn tồn tại trong các thủ tục, quy trình, thói quen làm việc và quy định của tổ chức đó. Tri thức được tạo ra bắt nguồn từ sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành cấu trúc thứ bậc: từ dữ liệu đến thông tin, rồi từ thông tin đến tri thức. Tri thức và thông tin thường hay bị nhầm lẫn với nhau, tuy nhiên về bản chất tri thức và thông tin thì hoàn toàn khác nhau (Grey, 2007).

Dữ liệu là một tập hợp các sự việc, sự kiện, hiện tượng khách quan, rời rạc, chưa được xâu chuỗi, liên kết. Thông tin là một tập hợp các dữ liệu hình thành cho từng mục đích được xác định rõ ràng. Tri thức là một quá trình tổng hợp các thông tin, dữ liệu qua quá trình sàn lọc, phân tích, đánh giá, so sánh và chia sẻ sự hiểu biết, là tài sản bên trong của mỗi con người. Thường thì người ta có thể dễ dàng chia sẻ thông tin với nhau nhưng không dễ gì chia sẻ tri thức.

Theo Bollinger và cộng sự (2001) tri thức là khả năng nhận thức, mức độ hiểu biết của con người khi đứng trước nhiều nguồn thông tin khác nhau, thông qua quá trình tìm kiếm, thu thập và tiếp nhận thông tin cùng với những kinh nghiệm mà con người tích lũy được. Về phân loại, tri thức có hai loại đó là tri thức tường minh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cả tri thức tường minh và tri thức tiềm ẩn đều có thể chia sẻ được, nhưng hình thức chia sẻ thì không giống nhau. Tri thức tường minh có thể nhìn thấy, nghe, đọc, sao chép, phân loại, chuyển giao như thông tin và có thể minh họa cho người khác dễ dàng hiểu được vì vậy có thể chia sẻ thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Tri thức tiềm ẩn rất khó diễn đạt thông qua ngôn ngữ mà có thể cảm nhận được qua cảm xúc, hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ vì vậy có thể chia sẻ được thông qua cử chỉ, quan sát (Bartol và Srivastava, 2002). Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức nhưng chung quy lại theo Beccrra – Fememdez & ctg (2004) thì, tri thức là sự lý giải về mối liên hệ giữa các nội dung có liên quan với nhau trong một vấn đề cụ thể. Tri thức là yếu tố quan trọng, cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động, khi áp dụng tri thức vào hoạt động sẽ tạo ra nhiều sản phẩm và tăng giá trị trong sản phẩm, dịch vụ (Martensson, 2000). Grey (2007) cho rằng tri thức là sự hiểu biết của một cá nhân; khi cá nhân có được sự hiểu biết và đem sự hiểu biết đó ra hành động để đạt được mục tiêu đã đề ra.

Tri thức được xem là nguồn tài nguyên đặt biệt, vô tận, khó thay thế, không giống những nguồn tài nguyên khác như khoáng sản, sức lao động, máy móc, tiền bạc, động thực vật…bị tiêu hao và mất đi trong quá trình khai thác, sử dụng. Sử dụng tri thức càng nhiều khả năng sáng tạo ra tri thức mới càng cao. Chia sẻ tri thức Theo Davenport & Prusak (1998) chia sẻ tri thức là quá trình trao đổi sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cá nhân hay một nhóm người trong tổ chức, nhằm cải thiện hiện trạng, tạo ra sự thay đổi tích cực, nguồn lực có giá trị cho tổ chức. Catherin Elizabeth (2000) chia sẻ tri thức bao gồm các hành vi liên quan đến việc trao đổi thông tin mang tính chất trao đổi qua lại hai chiều, không giống như chia sẻ thông tin chỉ diễn ra theo một hướng, một bên cung cấp và một bên nhận.

Theo Cummings (2004) chia sẻ tri thức là việc cung cấp thông tin để mọi người cùng tham gia giải quyết những vấn đề nhất định, phát triển ý tưởng mới, tư duy, đề xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 sáng kiến hoặc thực hiện các quy trình, quy định. Ford (2001) chia sẻ tri thức là việc làm cho tri thức được lan truyền, phổ biến, chuyển giao giữa các cá nhân, nhóm người hay tổ chức. Mark Sharratt & Abel Usoro (2003) chia sẻ tri thức là sự chuyển giao, trao đổi nguồn tài nguyên từ bên cho sang bên nhận. & cộng sự (2005) cho rằng, chia sẻ tri thức là một nội dung trong hoạt động quản lý tri thức; các cá nhân trong tổ chức sẵn sàng chia sẻ với người khác những tri thức mà họ có được để mọi người có thể khai thác, sử dụng.

Chia sẻ tri thức là việc làm cho tri thức trở nên có giá trị hơn và mọi nhân viên trong tổ chức đều sử dụng được, người chia sẻ tri thức sẽ không từ bỏ hoặc mất đi tri thức mà họ có được, khi chia sẻ tri thức sẽ trở thành tài sản thuộc sở hữu chung giữa người chia sẻ và người nhận (IPE, 2003). Suppiah & Sandhu (2011) chia sẻ tri thức là việc làm cho tri thức cá nhân trở thành tri thức chung của mọi người, của tổ chức. Hendriks (1999) chia sẻ tri thức có vai trò rất quan trọng vì nó tạo ra sự gắn kết giữa cá nhân với tổ chức, tri thức cá nhân sẽ trở thành tri thức của tổ chức, nhờ vậy mà nó được chuyển hóa thành vật chất có giá trị về mặt kinh tế và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức. Chia sẻ tri thức là phương tiện để các nhân viên ứng dụng tri thức, đổi mới và nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty (Jackson, Chuang, harden, Jiang và Joseph, 2006).

Cohen và Levinthal (1990) thì cho rằng sự cộng tác, phối hợp giữa các cá nhân có sự hiểu biết phong phú và đa dạng sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển, đổi mới của tổ chức nhanh hơn là khả năng của một cá nhân. Boland và Tenkasi (1995) cũng đồng tình với ý kiến này và chỉ ra sự thành công và lợi thế cạnh tranh của các tổ chức có được bắt nguồn từ sự hợp tác của các cá nhân có tri thức. Việc chia sẻ tri thức có ý nghĩa quyết định đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tổ chức. Từ lâu, việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên, nhóm, ban, bộ phận làm việc với nhau đã trở nên cần thiết cho tổ chức.

Thông qua chia sẻ tri thức giữa các cá nhân sẽ cùng nhau tạo ra tri thức mới (Sandhu và cộng sự, 2011) và làm sáng tỏ tri thức mới trong bối cảnh mới (Ramayah và cộng sự, 2013). Von Krough, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Ichijo và Nonaka (2000) cho rằng chia sẻ tri thức góp phần tạo ra tri thức mới và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong khu vực công, việc chia sẻ tri thức có nhiều thuận lợi và khó khăn nhất định. Liebowitz (2004) cho rằng chia sẽ tri thức trong khu vực công gặp nhiều khó khăn và trở ngại, vì mọi người xem tri thức gắn liền với quyền lực và liên quan đến cơ hội thăng tiến, từ đó sinh ra tâm lý và thái độ phòng hờ của cán bộ, nhân viên khi đề cập đến việc chia sẻ tri thức.

Ngoài ra, qua cách tiếp cận khác nhau với việc chia sẻ tri thức trong khu vực tư và khu vực công Chiem (2001) chỉ ra rằng việc chia sẻ tri thức trong khu vực công bị ảnh hưởng tiêu cực do bộ máy quan liêu. Văn hóa tổ chức trong khu vực công quy trách nhiệm quản trị tri thức thuộc về nhà quản lý, nhân viên không có trách nhiệm phải chia sẻ tri thức trong tổ chức. Mặt khác Chiem (2001) cũng thừa nhận rằng khu vực công cũng có những thuận lợi để chia sẻ tri thức. Thứ nhất, tổ chức công ít lo ngại về việc tiết lộ thông tin bí mật hơn khu vực tư.

Thứ hai, chia sẻ tri thức trong khu vực công hướng đến sự phục vụ của cán bộ, công chức cho cộng đồng, xã hội, trong khi khu vực tư, hướng về lợi nhuận. Hành vi chia sẻ tri thức, theo Tsui và các cộng sự (2006) định nghĩa, là hành vi trao đổi tri thức, tức là trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm và sự hiểu biết giữa các cá nhân trong tổ chức. Geraint (1998) cho rằng chia sẻ tri thức là chia sẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm để giúp cán bộ nhân viên hoàn thành công việc một cách nhanh nhất nhưng ít tốn kém về thời gian và chi phí nhất. Theo Maponya (2004) trong quá trình làm việc kể cả bên trong hay bên ngoài tổ chức thì hành vi chia sẻ tri thức sẽ thu được những kinh nghiệm.

Nếu nhân viên có sẵn tri thức, tổ chức sẽ tránh được việc đưa ra các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng. Các hoạt động chia sẻ tri thức hiệu quả giúp tái sử dụng tri thức của từng cá nhân và nâng cao giá trị của tri thức. Tsui và các cộng sự (2006) định nghĩa các cơ chế của hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức bao gồm: Đóng góp tri thức vào cơ sở dữ liệu của tổ chức; chia sẻ tri thức trực tiếp hay gián tiếp giữa các thành viên trong và ngoài nhóm làm việc; chia sẻ tri thức trong các hoạt động xã hội. Cũng như tri thức, chia sẻ tri thức cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 có thể nghe, nhìn thấy được qua giao tiếp bằng lời nói, ngôn ngữ, chữ viết, tài liệu hoặc không nhìn thấy được thông qua các hoạt động xã hội, quan sát, giao tiếp phi ngôn ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ