Tổng quan nghiên cứu

Tiền Giang sở hữu vị thế địa kinh tế chiến lược khi nằm tại cửa ngõ vùng Đồng bằng sông Cửu Long và thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Ngành du lịch địa phương ghi nhận hơn 472.000 lượt khách nội địa, chiếm hơn 28% tổng lượng khách du lịch toàn tỉnh. Tổng doanh thu từ các cơ sở lưu trú và lữ hành đạt 221 tỷ đồng, đóng góp gần 1,0% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh. Doanh thu lưu trú tăng bình quân 15,8%/năm và lữ hành tăng 25,1%/năm trong giai đoạn 2015 - 2017. Dù vậy, tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa chỉ đạt mức khiêm tốn 4,1%/năm. Hoạt động du lịch sinh thái Tiền Giang đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ các địa phương lân cận như Đồng Tháp và Long An. Các hạn chế về hạ tầng chưa đồng bộ, dịch vụ thiếu tính liên kết và nguồn nhân lực chưa đạt chuẩn đang cản trở tiềm năng khai thác bền vững.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thống kê kinh tế của tác giả Trần Thị Mỹ Hạnh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Mai Thanh Loan tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, được thực hiện nhằm giải quyết các điểm nghẽn thực tiễn này. Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu tập trung khảo sát trực tiếp du khách nội địa tại các điểm du lịch trọng điểm trên địa bàn tỉnh trong khung thời gian từ ngày 01/11/2017 đến ngày 15/12/2017. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực nghiệm vững chắc, giúp các cơ quan quản lý nhà nước cùng 68 đơn vị lữ hành và 24 khu điểm du lịch trên địa bàn tỉnh xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu hóa năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và mô hình phát triển du lịch sinh thái hiện đại. Theo quan điểm của Butler (1993) và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2002), phát triển du lịch bền vững là quá trình khai thác tài nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và cộng đồng bản địa nhưng vẫn bảo tồn nguyên vẹn các giá trị tự nhiên, văn hóa cho thế hệ tương lai. Khung lý thuyết của Machado (2003) thiết lập hệ thống 20 tiêu chí phân định rõ nét giữa phát triển du lịch bền vững và phát triển không bền vững, nhấn mạnh vào chất lượng kiểm soát, sử dụng hợp lý nguồn lực bản địa và bảo vệ hệ sinh thái.

Du lịch sinh thái được định nghĩa là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên, gắn kết chặt chẽ với việc tìm hiểu văn hóa bản địa, nâng cao ý thức bảo tồn và tạo sinh kế kinh tế cho người dân (Wood, 2001; Bùi Thị Minh Nguyệt, 2013). Trên cơ sở kế thừa mô hình nghiên cứu của Dr. Ibun Kombo (2016), Phan Thị Dang (2015), cùng công trình của Nguyễn Trọng Nhân và Phan Thành Khởi (2016), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố tác động cùng chiều đến sự phát triển du lịch sinh thái Tiền Giang: Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ; Giá cả dịch vụ hợp lý; Chất lượng nguồn nhân lực; An ninh trật tự và an toàn; Cơ sở vật chất kỹ thuật; Môi trường tự nhiên. Các khái niệm cốt lõi này phản ánh toàn diện sức hấp dẫn của điểm đến và năng lực thích ứng của hệ sinh thái du lịch địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Giai đoạn định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu 5 chuyên gia quản lý du lịch cùng đại diện doanh nghiệp lữ hành để hiệu chỉnh mô hình và chuẩn hóa thang đo sơ bộ. Thang đo chính thức sử dụng thang đo Likert 5 mức độ với 36 biến quan sát đại diện cho 6 nhóm nhân tố độc lập và 1 biến phụ thuộc.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng tại bến tàu du lịch Tiền Giang thông qua 10 doanh nghiệp lữ hành tiêu biểu. Quy mô mẫu tối thiểu được xác định theo nguyên tắc của Tabachnick và Fidell (1996) cho hồi quy tuyến tính (n = 8m + 50 = 98 mẫu) và Hair cùng cộng sự (1998) cho phân tích nhân tố (n = 5m = 180 mẫu). Tác giả đã phát ra 200 bảng câu hỏi và thu về 191 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 95,5%) trong thời gian từ 01/11/2017 đến 15/12/2017.

Dữ liệu sơ cấp được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS 23.0. Phương pháp phân tích bao gồm: đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận > 0,6), phân tích nhân tố khám phá EFA (điều kiện KMO từ 0,5 đến 1,0; kiểm định Bartlett có Sig. <= 0,05; tổng phương sai trích >= 50% và Eigenvalue > 1), phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy đa biến. Phương pháp này được lựa chọn vì tính chuẩn xác cao trong việc kiểm định các giả định thống kê và định lượng mức độ đóng góp của từng nhân tố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mẫu khảo sát 191 du khách nội địa ghi nhận cơ cấu giới tính cân bằng với 51,3% nam và 48,7% nữ. Về độ tuổi, nhóm khách từ 25 đến 34 tuổi chiếm tỷ trọng lớn nhất với 60,2%, tiếp đến là nhóm 35 đến 44 tuổi chiếm 20,9%, nhóm dưới 25 tuổi chiếm 15,2% và trên 44 tuổi chiếm 3,7%. Trình độ học vấn của du khách ở mức cao khi có 59,7% đạt trình độ đại học, 18,3% cao đẳng/trung cấp và 9,9% trên đại học. Về địa bàn cư trú, 35,6% du khách đến từ các thành phố lớn và 33,5% từ các thị xã, thị trấn.

Kiểm định độ tin cậy thang đo cho thấy tất cả các biến quan sát đều đạt chuẩn thống kê cao. Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ đạt 0,948; Chất lượng nguồn nhân lực đạt 0,932; Giá cả dịch vụ hợp lý đạt 0,910; An ninh trật tự và an toàn đạt 0,906. Tất cả các hệ số tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0,3.

Thống kê mô tả chỉ ra mức độ đánh giá trung bình của du khách đối với các nhân tố đạt từ 3,13 đến 3,63 điểm trên thang đo 5 điểm. Nhân tố Cơ sở vật chất kỹ thuật được đánh giá cao nhất với điểm trung bình 3,63/5, trong đó tiêu chí bến tàu đường thủy rộng rãi đạt 3,70/5 và phương tiện vận chuyển an toàn đạt 3,66/5. Nhân tố An ninh trật tự và an toàn đạt 3,47/5; Chất lượng nguồn nhân lực đạt 3,46/5 (tiêu chí nhân viên thân thiện, nhiệt tình đạt 3,56/5); Giá cả dịch vụ hợp lý đạt 3,39/5. Ngược lại, hai nhân tố nhận điểm số thấp nhất là Môi trường tự nhiên (3,14/5) và Cơ sở hạ tầng cùng dịch vụ hỗ trợ (3,13/5), trong đó tiêu chí quản lý rác thải chỉ đạt 3,05/5 và diện tích phòng nghỉ chỉ đạt 3,10/5. Biến phụ thuộc Sự phát triển du lịch sinh thái đạt điểm bình quân 3,29/5. Toàn bộ dữ liệu này có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột phân bố điểm số trung bình và bảng ma trận tương quan giữa các biến.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích phản ánh thực trạng phân hóa rõ rệt trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái tại Tiền Giang. Mặc dù địa phương đã đầu tư nâng cấp hệ thống 400 tàu vận chuyển du lịch và 300 đò chèo, mang lại sự an tâm cho du khách về mặt phương tiện kỹ thuật (3,63/5), nhưng hạ tầng lưu trú và dịch vụ bổ trợ vẫn là nút thắt lớn. Điểm số trung bình của cơ sở hạ tầng (3,13/5) và công tác quản lý rác thải (3,05/5) ở mức thấp giải thích vì sao thời gian lưu trú của du khách tại Tiền Giang còn ngắn và doanh thu dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Trọng Nhân và Phan Thành Khởi (2016) tại rừng tràm Trà Sư và nghiên cứu của Phan Thị Dang (2015) tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Sự tương đồng này khẳng định quy luật: hạ tầng kỹ thuật và môi trường cảnh quan luôn là hai trụ cột quyết định mức độ hài lòng và hành vi quay lại của du khách sinh thái.

Về mặt ý nghĩa kinh tế - xã hội, việc du khách đánh giá cao triển vọng tạo việc làm cho người dân địa phương (3,31/5) và phát triển văn hóa bản địa (3,30/5) khẳng định du lịch sinh thái chính là chìa khóa thúc đẩy sinh kế bền vững. Tuy nhiên, nếu không giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm rác thải và thiếu hụt dịch vụ giải trí chất lượng cao, tăng trưởng du lịch sẽ khó đạt được mục tiêu đóng góp vượt mức 1,0% GRDP của tỉnh trong dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch sinh thái tỉnh Tiền Giang:

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng và đa dạng hóa dịch vụ hỗ trợ. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Giao thông Vận tải triển khai kế hoạch chỉnh trang toàn diện 4.198 phòng lưu trú hiện có, nâng cao tiện nghi nhà vệ sinh công cộng và phủ sóng viễn thông tốc độ cao tại 24 khu điểm du lịch. Mục tiêu cụ thể là nâng mức độ hài lòng về hạ tầng từ 3,13 lên tối thiểu 4,0/5 trong khung thời gian 18 đến 24 tháng tới.

Thứ hai, tăng cường quản lý rác thải và bảo tồn môi trường sinh thái tự nhiên. Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng chính quyền các huyện, thị xã thiết lập quy trình thu gom, xử lý rác thải đạt chuẩn tại các tuyến du lịch đường thủy Cù lao Thới Sơn và vùng ngập phèn Đồng Tháp Mười. Giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng chỉ số quản lý rác thải từ mức thấp 3,05 lên trên 4,2/5, hoàn thành vào cuối năm 2019, đồng thời trích 10% doanh thu du lịch tái đầu tư cho công tác bảo vệ đa dạng sinh học.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho nguồn nhân lực du lịch. Hiệp hội Du lịch tỉnh Tiền Giang cùng các trường đào tạo nghề tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về nghiệp vụ hướng dẫn, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ cho 292 hướng dẫn viên và đội ngũ phục vụ. Đảm bảo 100% nhân sự nắm vững kiến thức sinh thái bản địa và gia tăng tỷ lệ hướng dẫn viên quốc tế lên trên 35% trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ tư, duy trì an ninh trật tự và thực hiện minh bạch hóa giá cả dịch vụ. Công an tỉnh và Đội Quản lý thị trường duy trì các tổ tuần tra liên ngành tại các bến bãi, bến tàu du lịch, kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng chèo kéo, ăn xin và thách giá. Toàn bộ 68 doanh nghiệp lữ hành và các cơ sở dịch vụ ăn uống phải niêm yết giá công khai, giữ vững chỉ số an ninh trật tự trên mức 4,5/5 xuyên suốt các mùa cao điểm du lịch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang cùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng kết quả định lượng để làm căn cứ khoa học điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, đặc biệt là đề án nâng tầm Khu du lịch Thới Sơn thành khu du lịch quốc gia.

Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: 68 đơn vị kinh doanh lữ hành và các chủ đầu tư cơ sở lưu trú, điểm tham quan nhà vườn tại Tiền Giang có thể dựa trên dữ liệu khảo sát 191 du khách để định hình lại gói sản phẩm du lịch sinh thái, cải tiến bến bãi, phương tiện vận chuyển và hoàn thiện chính sách giá cả cạnh tranh.

Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Thống kê kinh tế, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành có thể kế thừa khung mô hình 6 nhân tố, bộ thang đo chuẩn hóa 36 biến quan sát cùng quy trình phân tích Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy đa biến trên SPSS 23.0 làm tài liệu tham khảo chất lượng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

Cộng đồng dân cư và các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng: Các hộ gia đình làm mô hình homestay, vườn cây ăn trái và đò chèo có thể nắm bắt xu hướng tiêu dùng của nhóm khách trẻ tuổi (chiếm 60,2% từ 25 - 34 tuổi) nhằm nâng cao thái độ ứng xử, bảo vệ môi trường sông nước và trực tiếp nâng cao thu nhập hộ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn thạc sĩ này là gì? Luận văn tập trung xác định và đo lường mức độ tác động của 6 nhóm nhân tố gồm cơ sở hạ tầng, giá cả, nhân lực, an ninh, cơ sở vật chất và môi trường đến sự phát triển du lịch sinh thái Tiền Giang, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách thực tiễn cho giai đoạn 2018 - 2020.

Kích thước mẫu 191 du khách có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Cỡ mẫu 191 du khách nội địa hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện thống kê khắt khe theo công thức của Tabachnick và Fidell (cần tối thiểu 98 mẫu) và tiêu chuẩn của Hair cùng cộng sự (cần tối thiểu 180 mẫu cho 36 biến quan sát), đảm bảo tính đại diện cao cho tổng thể.

Nhân tố nào được du khách đánh giá cao nhất và thấp nhất trong khảo sát? Cơ sở vật chất kỹ thuật được đánh giá cao nhất với điểm trung bình 3,63/5 nhờ hệ thống tàu vận chuyển và bến thủy an toàn. Ngược lại, Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ nhận điểm thấp nhất với 3,13/5 do chất lượng phòng nghỉ và dịch vụ giải trí còn hạn chế.

Vì sao điểm số đánh giá về môi trường tự nhiên chỉ đạt 3,14/5 điểm? Điểm số môi trường ở mức khiêm tốn xuất phát từ việc công tác quản lý rác thải tại các điểm du lịch sông nước còn nhiều bất cập, chỉ đạt 3,05/5 điểm, cùng với việc tuyên truyền nâng cao ý thức bảo tồn cảnh quan chưa được triển khai đồng bộ đến du khách.

Các doanh nghiệp du lịch Tiền Giang có thể ứng dụng kết quả này như thế nào? Doanh nghiệp có thể ứng dụng kết quả để tái cơ cấu sản phẩm, tập trung nâng cấp tiện nghi phòng ốc, công khai niêm yết giá dịch vụ và đào tạo kỹ năng giao tiếp cho nhân viên nhằm tiếp cận hiệu quả 60,2% phân khúc du khách trẻ trong độ tuổi 25 đến 34 tuổi.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu khoa học đề ra thông qua các kết luận cốt lõi sau:

  • Xác lập và kiểm định thành công mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố tác động đến sự phát triển du lịch sinh thái tỉnh Tiền Giang với độ tin cậy Cronbach's Alpha vượt trội từ 0,906 đến 0,948.
  • Khảo sát thực chứng 191 du khách nội địa chỉ ra rằng Cơ sở vật chất kỹ thuật đạt mức đánh giá cao nhất (3,63/5), trong khi Cơ sở hạ tầng (3,13/5) và Môi trường tự nhiên (3,14/5) là những khâu yếu nhất cần khắc phục ngay.
  • Minh chứng vai trò then chốt của du lịch sinh thái trong việc gia tăng cơ hội việc làm (3,31/5) và bảo tồn văn hóa địa phương (3,30/5), đóng góp thiết thực vào 221 tỷ đồng doanh thu du lịch toàn tỉnh.
  • Đóng góp hệ thống thang đo 36 biến quan sát chuẩn hóa, làm tài liệu tham khảo giá trị cho chuyên ngành Thống kê kinh tế và nghiên cứu du lịch Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hạ tầng, môi trường, nhân lực và an ninh với mục tiêu nâng điểm hài lòng trung bình lên trên 4,0/5 trong giai đoạn 2018 - 2020.

Để hiện thực hóa tiềm năng trở thành trung tâm du lịch sinh thái hàng đầu khu vực, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp Tiền Giang cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn quản lý và đầu tư ngay hôm nay.