Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò là xương sống của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 96,96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động vào năm 2011, đóng góp hơn 45% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo ra khoảng 17,46% tổng thu ngân sách Nhà nước. Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006, môi trường kinh doanh mở rộng mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt các DNNVV trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia. Mặc dù số lượng doanh nghiệp tăng trưởng trung bình 39,52%/năm trong giai đoạn 2006-2011, phần lớn các đơn vị này vẫn đối mặt với điểm nghẽn nghiêm trọng về vốn hoạt động, công nghệ máy móc lạc hậu và rào cản lớn trong việc tiếp cận các kênh dẫn vốn chính thức.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và cơ chế vận hành của các nguồn tài trợ bên ngoài dành cho DNNVV tại Việt Nam, bao gồm tín dụng ngân hàng, thuê mua tài chính, phát hành trái phiếu chuyển đổi và các quỹ đầu tư mạo hiểm. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế vĩ mô trên toàn quốc trong giai đoạn 2006-2011, đồng thời xây dựng định hướng phát triển nguồn vốn cho giai đoạn 2011-2020. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc giải quyết bài toán thiếu hụt vốn lưu động và vốn đầu tư dài hạn cho khu vực tư nhân, nơi vốn đăng ký bình quân chỉ đạt 21,73 tỷ đồng/doanh nghiệp, góp phần tối ưu hóa cấu trúc tài chính và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) và lý thuyết bất đối xứng thông tin (Information Asymmetry Theory) để luận giải hành vi lựa chọn nguồn tài trợ của doanh nghiệp. Trong điều kiện vốn tự có hạn hẹp, DNNVV buộc phải tìm kiếm các nguồn tài trợ bên ngoài theo trật tự ưu tiên từ nợ vay ngân hàng, thuê mua tài chính đến phát hành công cụ nợ lai ghép và vốn cổ phần mạo hiểm. Mô hình nghiên cứu phân tích chi tiết bốn kênh tài trợ chủ lực:

  • Tín dụng ngân hàng: Bao gồm tín dụng ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng tài trợ vốn lưu động) và tín dụng trung - dài hạn tài trợ đổi mới công nghệ.
  • Thuê mua tài chính (Cho thuê tài chính): Căn cứ theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP, đây là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn tài trợ gần 100% nhu cầu mua sắm máy móc, thiết bị mà không đòi hỏi tài sản thế chấp ban đầu.
  • Trái phiếu chuyển đổi: Công cụ lai ghép giữa trái phiếu doanh nghiệp và quyền mua cổ phiếu, giúp doanh nghiệp hạ thấp chi phí trả lãi định kỳ so với vay ngân hàng và tăng vốn cổ phần trong tương lai.
  • Quỹ đầu tư và đầu tư mạo hiểm: Kênh cung ứng vốn cổ phần và hỗ trợ năng lực quản trị chuẩn quốc tế cho các doanh nghiệp khởi nghiệp có rủi ro kinh doanh cao nhưng tiềm năng tăng trưởng vượt trội.

Khái niệm DNNVV được chuẩn hóa căn cứ theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, phân định rõ ba cấp: siêu nhỏ (dưới 10 lao động), nhỏ (tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc dưới 200 lao động) và vừa (tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đến 100 tỷ đồng hoặc từ trên 200 đến 300 lao động tùy theo khu vực kinh tế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu đa tầng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Niên giám Thống kê Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2011, cùng các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thực hiện khảo sát thực chứng với kích cỡ mẫu N = 200 DNNVV trên phạm vi toàn quốc thông qua bảng câu hỏi điều tra chi tiết. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các lĩnh vực: Thương mại - Dịch vụ (chiếm 64,0%), Công nghiệp - Xây dựng (chiếm 32,0%) và Nông, lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 4,0%).
  • Phương pháp phân tích: Ứng dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thống kê mô tả, phân tích tần số, lập bảng kết hợp chéo giữa vốn điều lệ và quy mô lao động, đánh giá thực trạng hiểu biết và mức độ tiếp cận các kênh vốn. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, lượng hóa chính xác các rào cản tín dụng và kiểm định mức độ tương thích giữa nhu cầu của doanh nghiệp với các gói sản phẩm tài chính hiện hành.
  • Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế: Đối chiếu mô hình quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc (IBK) và hệ thống cho vay hỗ trợ quản lý Marukei kết hợp mạng lưới bảo lãnh tín dụng của Nhật Bản theo Luật Cơ bản về DNNVV năm 1999.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm và số liệu thống kê giai đoạn 2006-2011 mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

  • Sự bùng nổ về số lượng nhưng quy mô vốn còn rất khiêm tốn: Tổng số doanh nghiệp hoạt động thực tế tại Việt Nam tăng 197,59% từ 131.318 doanh nghiệp (năm 2006) lên ước tính 390.788 doanh nghiệp (năm 2011). Trong đó, khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng từ 123.392 lên 378.873 đơn vị (tăng 207,05%), chiếm tỷ trọng tuyệt đối 96,96%. Tuy nhiên, vốn sản xuất kinh doanh bình quân của khối này năm 2011 chỉ đạt 21,73 tỷ đồng/doanh nghiệp. Kết quả khảo sát 200 doanh nghiệp cho thấy có 20,5% doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở xuống và 40,0% có vốn từ trên 10 đến 20 tỷ đồng.
  • Tạo việc làm vượt bậc nhưng đầu tư tài sản cố định rất thấp: Lao động làm việc trong khu vực ngoài Nhà nước tăng từ 3.369.855 người (chiếm 50,19% năm 2006) lên 7.311.951 người (chiếm 64,40% năm 2011). Dù giải quyết tới 90% việc làm mới của xã hội, mức độ trang bị tài sản cố định của khối này chỉ đạt trung bình hơn 5,2 tỷ đồng/doanh nghiệp, tương đương khoảng 150 triệu đồng/lao động. Có tới 80% doanh nghiệp sở hữu quy mô tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng.
  • Sự phụ thuộc quá lớn vào kênh tín dụng ngân hàng: Khảo sát chỉ ra 69,0% doanh nghiệp thuộc loại hình Công ty TNHH và 29,0% là Công ty cổ phần. Hơn 85% nhu cầu vốn bên ngoài vẫn dồn vào ngân hàng thương mại. Ngược lại, các kênh tài trợ hiện đại gần như chưa phát huy hiệu quả: tỷ lệ doanh nghiệp hiểu biết và sử dụng trái phiếu chuyển đổi chỉ chiếm dưới 15%, trong khi kênh quỹ đầu tư mạo hiểm và cho thuê tài chính vẫn xa lạ với hơn 70% đối tượng khảo sát.
  • Tăng trưởng doanh thu ấn tượng nhưng đối mặt chi phí vốn cao: Tổng doanh thu thuần của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng trưởng bình quân 40,4%/năm, từ 1.126.356 tỷ đồng (năm 2006) lên 5.856.832 tỷ đồng (năm 2011), song tỷ suất lợi nhuận bị bào mòn đáng kể do lãi suất vay ngân hàng neo ở mức cao trong các chu kỳ thắt chặt tiền tệ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nghẽn mạch dòng vốn bắt nguồn từ sự bất đối xứng thông tin giữa tổ chức tín dụng và DNNVV. Khi đối chiếu với các nguyên lý tài chính doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại luôn yêu cầu tài sản bảo đảm thế chấp lên tới 100-120% giá trị khoản vay, trong khi 80% DNNVV có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng và phần lớn nhà xưởng, đất đai chưa hoàn tất thủ tục pháp lý cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Đội ngũ quản lý doanh nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm (chỉ có 38,0% lãnh đạo có trình độ trên đại học), hệ thống báo cáo kế toán chưa minh bạch và thiếu kiểm toán độc lập, làm gia tăng chi phí giám sát của các ngân hàng.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự tương quan rõ nét khi được mô hình hóa qua bảng kết hợp chéo giữa vốn điều lệ và quy mô lao động, cũng như biểu đồ phân bổ nguồn tài trợ. Các doanh nghiệp có quy mô lao động từ 10 đến 200 người (chiếm 53,5%) và thời gian hoạt động dưới 5 năm (chiếm 32,0%) là nhóm chịu tổn thương lớn nhất khi không thể tiếp cận tín dụng trung - dài hạn. So sánh với kinh nghiệm của Hàn Quốc, nơi Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc (IBK) áp dụng hệ thống chấm điểm tín dụng tự động và tài trợ dựa trên dòng tiền của mạng lưới nhà thầu phụ liên kết với tập đoàn lớn như POSCO, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn vận hành theo lối mòn định giá tài sản thế chấp truyền thống, bỏ ngỏ các sản phẩm tài chính tiềm năng như cho thuê tài chính và trái phiếu chuyển đổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khơi thông các nguồn tài trợ phục vụ mục tiêu phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2020, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Chính phủ và Bộ Tài chính: Hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm và quyền tài sản; thực hiện chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 2-4 năm cho các DNNVV mới thành lập đổi mới sáng tạo; mở rộng mạng lưới Quỹ bảo lãnh tín dụng (QBLTD) tại các địa phương với mục tiêu nâng tỷ lệ giải ngân bảo lãnh lên mức 20-25% tổng dư nợ SME giai đoạn 2012-2015.
  • Ngân hàng Nhà nước (NHNN): Ban hành cẩm nang chuẩn hóa quy trình thẩm định tín dụng riêng biệt cho DNNVV; điều hành lãi suất linh hoạt và áp dụng hạn mức tái cấp vốn ưu đãi cho các tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay SME đạt trên 40% tổng dư nợ, duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng SME ổn định từ 18-20%/năm đến năm 2020.
  • Các Ngân hàng Thương mại (NHTM): Tái cấu trúc bộ máy bằng việc thành lập các Trung tâm phục vụ khách hàng SME chuyên biệt; chuyển dịch từ thẩm định dựa trên tài sản bảo đảm sang thẩm định dòng tiền dự án khả thi; phát triển các gói sản phẩm tín dụng liên kết chuỗi thầu phụ (network financing) và cho vay với quyền chuyển đổi thành vốn góp nhằm tiết giảm 15-20% chi phí quản lý khoản vay.
  • Các Công ty Cho thuê tài chính và Quỹ đầu tư: Tăng cường tuyên truyền nghiệp vụ cho thuê tài chính để tài trợ 100% vốn mua sắm máy móc công nghệ cao; thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân và quỹ đầu tư hạt giống (seed capital) nhằm nâng tỷ trọng vốn tài trợ ngoài ngân hàng lên mức 25-30% tổng cơ cấu vốn SME trước năm 2020.
  • Bản thân các DNNVV: Thiết lập hệ thống sổ sách kế toán minh bạch theo chuẩn mực VAS; chủ động nâng cao năng lực lập dự án đầu tư kinh doanh; đào tạo chuyên môn tài chính cho ban điều hành và nghiên cứu phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi trong các giai đoạn mở rộng quy mô.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Chủ doanh nghiệp và Giám đốc Tài chính (CFO) khối DNNVV: Ứng dụng cẩm nang đa dạng hóa nguồn tài trợ để lựa chọn linh hoạt giữa thuê mua tài chính, trái phiếu chuyển đổi và vay thương mại, từ đó tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) và giảm áp lực trả nợ ngắn hạn.
  • Cán bộ quản lý tín dụng và chuyên viên thẩm định rủi ro tại các NHTM: Tham khảo phương pháp xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ dành riêng cho SME và quy trình quản trị rủi ro dòng tiền học hỏi từ mô hình ngân hàng IBK Hàn Quốc.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước: Sử dụng các số liệu thực chứng giai đoạn 2006-2011 để hoàn thiện các nghị định, thông tư hướng dẫn về bảo lãnh tín dụng, vườn ươm doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Khai thác khung lý thuyết trật tự phân hạng, cấu trúc vốn doanh nghiệp và phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát thực nghiệm SPSS N = 200 phục vụ các đề tài nghiên cứu học thuật liên quan.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao phần lớn DNNVV tại Việt Nam gặp khó khăn khi tiếp cận vốn vay ngân hàng thương mại? Rào cản cốt lõi nằm ở tài sản bảo đảm và tính minh bạch thông tin. Hơn 80% DNNVV có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng và số liệu tài chính chưa qua kiểm toán độc lập. Ngân hàng thương mại do áp lực kiểm soát rủi ro nợ xấu nên bắt buộc yêu cầu bất động sản thế chấp, khiến các phương án kinh doanh dù có tỷ suất sinh lời cao vẫn bị từ chối cấp tín dụng.
  • Thuê mua tài chính (cho thuê tài chính) giải quyết bài toán vốn cho DNNVV như thế nào? Theo quy định tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP, công ty cho thuê tài chính tài trợ trực tiếp đến gần 100% giá trị thiết bị, máy móc mà không đòi hỏi tài sản thế chấp bổ sung. Doanh nghiệp vừa bảo toàn được nguồn vốn lưu động để duy trì sản xuất, vừa nhanh chóng đổi mới dây chuyền công nghệ hiện đại.
  • Điều kiện nào giúp DNNVV phát hành thành công trái phiếu chuyển đổi? DNNVV cần chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần (trong mẫu khảo sát chiếm 29,0%), sở hữu phương án sản xuất kinh doanh có triển vọng tăng trưởng doanh thu vượt bậc và minh bạch hóa báo cáo tài chính. Trái phiếu chuyển đổi giúp doanh nghiệp hưởng mức lãi suất danh nghĩa thấp hơn vay ngân hàng và giảm bớt gánh nặng trả nợ gốc khi trái chủ thực hiện quyền chuyển đổi sang cổ phiếu thường.
  • Quỹ đầu tư mạo hiểm có vai trò gì trong giai đoạn khởi sự của doanh nghiệp? Ở giai đoạn khởi nghiệp, rủi ro kinh doanh rất cao và dòng tiền thường âm, khiến doanh nghiệp không thể vay nợ hay huy động vốn cổ phần đại chúng. Quỹ đầu tư mạo hiểm chấp nhận rủi ro cao để cung ứng vốn cổ phần đổi lấy quyền sở hữu, đồng thời chuyển giao công nghệ quản trị quốc tế và kết nối mạng lưới khách hàng nhằm nâng tầm giá trị doanh nghiệp.
  • Việt Nam có thể áp dụng bài học gì từ mô hình hỗ trợ DNNVV của Nhật Bản và Hàn Quốc? Việt Nam có thể áp dụng cơ chế cho vay tín chấp thông qua quỹ liên kết địa phương (chương trình Marukei của Nhật Bản) và mô hình cấp tín dụng theo chuỗi cung ứng dựa trên uy tín của doanh nghiệp đầu chuỗi (mô hình của Ngân hàng IBK và POSCO Hàn Quốc). Các giải pháp này giúp triệt tiêu rào cản tài sản thế chấp đơn lẻ của DNNVV.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đặc điểm, vai trò và các kênh tài trợ bên ngoài cho sự phát triển của DNNVV trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng giai đoạn 2006-2011 với sự bùng nổ của 378.873 doanh nghiệp ngoài Nhà nước (chiếm 96,96%), đóng góp hơn 45% GDP nhưng đối mặt với tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng và đầu tư tài sản cố định bình quân chỉ đạt 5,2 tỷ đồng/doanh nghiệp.
  • Lượng hóa chính xác các rào cản tín dụng thông qua khảo sát thực chứng 200 doanh nghiệp bằng phần mềm SPSS, chỉ ra sự thiên lệch quá mức vào tín dụng ngắn hạn và mức độ hiểu biết hạn chế về trái phiếu chuyển đổi, quỹ đầu tư.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Nhật Bản và Hàn Quốc về việc xây dựng hệ thống bảo lãnh tín dụng và quy trình thẩm định rủi ro dựa trên chuỗi liên kết giá trị.
  • Hoàn thiện hệ thống 5 nhóm giải pháp tài chính đồng bộ, khả thi cho giai đoạn 2011-2020 nhằm kết nối cung - cầu vốn giữa các định chế tài chính và cộng đồng doanh nghiệp.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2012 đến năm 2020, việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các định chế tài chính phi ngân hàng, hiện đại hóa hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chuẩn hóa kế toán doanh nghiệp là lộ trình bắt buộc để mở rộng các nguồn tài trợ. Các nhà quản trị, chuyên gia tài chính và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các luận cứ khoa học từ công trình này để triển khai các mô hình huy động vốn tối ưu, đưa khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế thành công.