Chương 1. Cơ sở lý luận chung. Thực trạng tạo động lực cho ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần Dịch vụ xuất bản Giáo dục tại Đà Nẵng. Giải pháp tạo động lực cho ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần Dịch vụ xuất bản Giáo dục tại Đà Nẵng.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Tổng quan về tạo động lực 1. Khái niệm Tạo động lực là tất cả những hoạt động mà một doanh nghiệp có thể thực hiện đƣợc đối với ngƣời lao động. Tác động đến khả năng làm việc, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động [4].
Tạo động lực cho ngƣời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của ngƣời lãnh đạo. Điều quan trọng nhất là thông qua các biện pháp, chính sách để khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Một khi ngƣời lao động có động lực làm việc thì sẽ nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Bên cạnh đó còn tạo ra sự gắn bó và thu hút lao động giỏi về với tổ chức.
Vai trò của tạo động lực trong quản trị nguồn nhân lực Đối với cá nhân người lao động Bất cứ một ngƣời lao động nào khi có động lực trong công việc họ sẽ làm việc hết mình với một tinh thần hăng say nhiệt tình, nỗ lực hơn khả năng vốn có. Họ dƣờng nhƣ không biết đến mệt mỏi và tất nhiên hiệu quả năng suất lao động vì thế cũng cao hơn, kích thích khả năng sáng tạo vốn đã tiềm tàng từ lâu. Ngƣời lao động thấy mình sống có ích hơn, yêu đời hơn và đây cũng là cơ sở tạo nên bầu không khí chan hoà, thân thiện với đồng nghiệp, với lãnh đạo. Điều này làm cho ngƣời lao động ngày càng gắn bó với tổ chức và là sức mạnh để giữ chân họ ở lại tổ chức.
Động lực làm việc không những là điều kiện mà còn là nhân tố quyết định hành vi, hiệu quả công việc. Nhân tố cốt lõi trong việc quyết định đến động lực chính là nhu cầu của mỗi cá nhân. Con ngƣời thiếu động lực là thiếu đi ƣớc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mơ, hoài bão, thiếu phƣơng hƣớng làm việc và mục đích sống. Tuỳ thuộc vào mức độ cấp bậc của nhu cầu mà ngƣời lao động sẽ có những hành động và phƣơng hƣớng thích hợp để thỏa mãn những nhu cầu đó.
Đối với tổ chức Tổ chức là nơi tập trung nhiều cá nhân riêng lẻ cùng làm việc với nhau. Ngƣời lao động trong tổ chức là tài sản quý nhất, đồng thời cũng là nguồn đầu tƣ vào sản xuất năng động nhất. Có phát huy đƣợc năng lực công tác của ngƣời lao động hay không là nhân tố quyết định đến sự thành bại của tổ chức. Mối quan hệ trong tổ chức trở nên tốt đẹp và lành mạnh hơn.
Không khí làm việc thoải mái, mọi ngƣời hỗ trợ nhau trong công việc, đặc biệt là tạo đƣợc khả năng cạnh tranh giữa các cá nhân trong tổ chức cũng nhƣ giữa tổ chức với các tổ chức khác bên ngoài, là một trong những nhân tố tạo tiền đề phát triển cho tổ chức trong tƣơng lai. Tổ chức cung cấp mọi hệ thống thù lao hấp dẫn và công bằng, điều kiện làm việc tốt, quan tâm, chú trọng đào tạo phát triển đồng thời tạo cho nhân viên có đƣợc sự thoả mãn trong công việc. Điều này có tác dụng khuyến khích nhân viên tích cực làm việc, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, tạo động lực góp phần thu hút nhân tài và điều kiện cho họ phát triển.
Ngoài ra nếu cấp trên công nhận thành tích cũng nhƣ có chính sách khích lệ kịp thời sẽ giúp ngƣời lao động gắn bó lâu dài hơn với tổ chức. Đối với ngƣời lao động, tên tuổi và hình ảnh của một tổ chức không chỉ đƣợc tô vẽ bằng mức lƣơng, giá trị cổ phiếu hay các chiến lƣợc quảng cáo rầm rộ mà còn gắn liền với chính sách nhân sự và nguồn nhân lực. Một môi trƣờng làm việc với nguồn nhân lực dồi dào và nhân viên có độ thoả mãn cao sẽ là lựa chọn ƣu tiên của ngƣời lao động. Giữa hai đơn vị cùng một mức lƣơng, có thƣơng hiệu, uy tín tƣơng đối ngang nhau, có chế độ đãi ngộ gần bằng nhau, ngƣời lao động sẽ chọn lựa đơn vị nào có "uy tín" hơn trong chính 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sách nhân sự.
Uy tín đó đƣợc tạo ra không nhƣ sản phẩm hàng hoá mà từ những chính sách hƣớng về con ngƣời bên trong và ngoài đơn vị. Sức cạnh tranh cốt lõi không phải từ một năng lực cụ thể mà đến từ nguồn nhân lực. Tài nguyên nhân lực chính là nguồn độc nhất của tổ chức, không thể bắt chƣớc hay sao chép nguyên bản từ bất cứ đơn vị nào khác. Tài nguyên nhân lực cũng chính là nhân tố quan trọng để làm tăng giá trị của đơn vị.
Ƣu thế về nguồn nhân lực chính là ƣu thế của tổ chức. Có con ngƣời, các mặt khác của tổ chức nhƣ tiêu thụ, kỹ thuật, sáng tạo sản phẩm mới. sẽ phát triển. Các tổ chức đầu tƣ chú ý về việc xây dựng một nguồn nhân lực vững mạnh và giữ vững thƣơng hiệu nhân lực của đơn vị mình thì chắc chắn sẽ tạo ra ƣu thế cạnh tranh hữu hiệu.
Đối với xã hội Đã bao giờ chúng ta tự hỏi xã hội sẽ nhƣ thế nào nếu mỗi ngƣời lao động đều không có động lực? Tất nhiên là nếu không có nó thì quá trình tạo ra sản phẩm vẫn cứ diễn ra, con ngƣời vẫn cứ lao động và xã hội vẫn cứ phát triển. Nhƣng nếu chỉ nhƣ là một "cái máy" không hơn thì cuộc sống sẽ rất buồn tẻ, khó có sự sáng tạo và cuối cùng có lẽ xã hội sẽ bƣớc sang ngã rẽ khác. Qua sự trình bày ở trên ta thấy vai trò cần thiết của tạo động lực. Nó giúp doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu của mình đồng thời thoả mãn các nhu cầu cá nhân ngƣời lao động, là cơ sở tạo nên sự phát triển của xã hội.
Thêm vào đó động lực còn giúp các cá nhân có thể thực hiện đƣợc mục tiêu, mục đích của mình, đời sống tinh thần của mỗi ngƣời sẽ trở nên phong phú hơn, từ đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội. Cơ sở tạo động lực 1. Khái niệm động lực Động lực đƣợc hiểu là sự khát khao tự nguyện của ngƣời lao động nhằm khơi dậy và hƣớng hành động vào việc đạt đƣợc mục tiêu mong đợi, tăng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cƣờng sự nỗ lực trong công việc để đạt đƣợc những mục tiêu của cá nhân và mục tiêu chung của tổ chức. Chúng xuất phát từ tiềm thức, lý trí của bản thân con ngƣời mong muốn đƣợc hành động, đƣợc thể hiện và đƣợc cống hiến [5].
Một tổ chức có thể đạt đƣợc năng suất lao động cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phƣơng pháp mà những ngƣời quản lý sử dụng để tạo động lực làm việc. Phân loại động lực: Có 2 loại (động lực bên trong và động lực bên ngoài). - Động lực bên trong: là động lực xuất phát từ sự khát khao đƣợc thoả mãn các nhu cầu bên trong từng cá nhân ngƣời lao động.
- Động lực bên ngoài: liên quan đến các yếu tố tác động bên ngoài của các doanh nghiệp và nhà quản trị nhƣ mức độ thoả mãn công việc hay khả năng đáp ứng nhu cầu của ngƣời lao động về lƣơng bổng, đãi ngộ, điều kiện làm việc, môi trƣờng làm việc, cách đối xử của các nhà quản trị, tính hấp dẫn, độc đáo hữu ích, bao gồm các yếu tố về nội dung công việc. Động lực càng mạnh thì sự hăng hái, nhiệt tình và trách nhiệm đối với công việc càng cao, càng giúp ngƣời lao động vƣơn tới sự quyết tâm để đạt đƣợc mục tiêu cũng nhƣ hiệu quả cao trong công việc. Vì thế trong quản trị con ngƣời, nhà quản trị phải không ngừng tìm cách tạo ra và gia tăng động lực làm việc [4]. Cách tiếp cận động lực Cách thức mà một nhà quản trị nhận thức về động lực cũng nhƣ sử dụng các phần thƣởng để khích lệ và động viên phụ thuộc vào cách tiếp cận của nhà quản trị đó về động lực.
Bốn cách tiếp cận khác nhau đối với động lực gồm: Cách tiếp cận truyền thống; Cách tiếp cận theo mối quan hệ con ngƣời; Cách tiếp cận nguồn lực con ngƣời và cách tiếp cận hiện đại về động lực có thƣởng [4]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cách tiếp cạnh truyền thống Nghiên cứu về động lực của nhân viên thực sự đƣợc bắt đầu bởi nghiên cứu của Frederick Winslow Taylor (1895) trong quản trị theo khoa học. Sự nhấn mạnh đến việc trả lƣơng đã quan niệm con ngƣời là thuần tuý kinh tế - có nghĩa là sự nỗ lực của họ chỉ để nhằm đƣợc trả lƣơng cao hơn. Cách tiếp cận này dẫn đến sự phát triển hệ thống trả lƣơng theo sản phẩm, theo đó nhân viên đƣợc trả lƣơng dựa trên số lƣợng và chất lƣợng công việc đã hoàn thành.
- Cách tiếp cận dựa trên các mối quan hệ với con người Cùng với sự phát triển của tƣ duy quản trị, "con ngƣời thuần tuý kinh tế" đã dần đƣợc thay thế bởi "con ngƣời thuần tuý xã hội". Bắt đầu đƣợc ghi nhận bởi những nghiên cứu tại nhà máy Hawthorne thuộc miền tây Hoa Kỳ, những phần thƣởng không thuộc về kinh tế, chẳng hạn đƣợc làm việc trong những nhóm có cùng chung nhu cầu xã hội dƣờng nhƣ quan trọng hơn vấn đề tiền bạc, và là một yếu tố chính yếu tạo nên động lực của hành vi trong công việc. Lần đầu tiên công nhân đƣợc nhìn nhận với tƣ cách là con ngƣời, và khái niệm con ngƣời xã hội ra đời từ đó. - Cách tiếp cận nguồn nhân lực Cách tiếp cận nguồn nhân lực đã phát triển khái niệm con ngƣời kinh tế và con ngƣời xã hội ở trình độ cao hơn nhằm đƣa ra cách nhìn toàn diện về con ngƣời.
Thuyết về nguồn nhân lực đã chỉ ra rằng con ngƣời là một thực thể phức tạp và đƣợc thúc đẩy bởi nhiều yếu tố. Ngƣời khởi xƣớng ra cách tiếp cận trƣớc đây đã điều khiển nhân viên thông qua việc thoả mãn nhu cầu về kinh tế hoặc là nhu cầu về xã hội. Thực ra thì con ngƣời bị thúc đẩy bởi nhiều yếu tố và việc nhận diện rõ chúng luôn là công việc khó khăn.