Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống y tế công lập tại Việt Nam, chi phí tiền thuốc luôn chiếm tỷ trọng chi phối trong nguồn lực tài chính y tế. Giai đoạn 2009-2012, chi phí thuốc chiếm trên 60% tổng chi phí khám chữa bệnh và duy trì ở mức 48,7% vào năm 2015. Trong tổng số 22.615 số đăng ký thuốc còn hiệu lực năm 2013, có tới 11.923 thuốc nhập khẩu, phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn dược phẩm ngoại nhập. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là công tác quản lý đấu thầu cung ứng thuốc tại các bệnh viện công lập còn bộc lộ nhiều bất cập, dẫn đến giá thuốc phân tán giữa các cơ sở y tế, tình trạng độc quyền và tỷ lệ lựa chọn thuốc biệt dược đắt tiền còn cao.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đấu thầu thuốc, phân tích thực trạng công tác quản lý đấu thầu tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương giai đoạn 2007-2015, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương; phạm vi thời gian từ năm 2007 đến năm 2015 dựa trên cơ sở thực thi các văn bản pháp quy từ Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BYT-BTC đến Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và các Thông tư số 09, 10, 11/2016/TT-BYT. Ý nghĩa của nghiên cứu giúp tối ưu hóa việc sử dụng quỹ bảo hiểm y tế, giảm thiểu biên độ chênh lệch giá thuốc từ 33% đến 83% đối với một số nhóm hoạt chất chủ lực, đồng thời bảo đảm quyền lợi người bệnh được tiếp cận nguồn thuốc an toàn, chất lượng với chi phí hợp lý.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về mua sắm công và chu trình quản lý hiện đại gồm 5 chức năng cốt lõi: Hoạch định, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra và Điều chỉnh. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết cạnh tranh thị trường trong việc kiểm soát giá và chất lượng hàng hóa y tế theo quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.

Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm: Đấu thầu thuốc là quá trình lựa chọn nhà thầu cung ứng thuốc đáp ứng các tiêu chuẩn kinh tế và kỹ thuật; Quản lý đấu thầu thuốc tại bệnh viện là sự tác động có tổ chức của lãnh đạo đơn vị nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính; Ba hình thức tổ chức đấu thầu cơ bản gồm đấu thầu tập trung, đấu thầu đại diện và đấu thầu đơn lẻ. Bên cạnh đó, các quy chuẩn về gói thầu chào hàng cạnh tranh có hạn mức dưới 5 tỷ đồng và hình thức mua sắm trực tiếp không vượt quá 130% quy mô gói thầu trước đó được áp dụng làm thước đo pháp lý trong hoạt động quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo đấu thầu, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương giai đoạn 2007-2015, kết hợp dữ liệu đối chuẩn từ 119 hội đồng đấu thầu thuốc trên cả nước và 56 địa phương thực hiện đấu thầu tập trung.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ danh mục thuốc đấu thầu hàng năm với hàng trăm hoạt chất chuyên khoa điều trị bệnh lý nội tiết, kết hợp khảo sát mẫu toàn diện về cơ cấu nhân lực Khoa Dược tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương so với tiêu chuẩn 50% cán bộ có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ đấu thầu tại các bệnh viện lớn tuyến Trung ương. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu toàn bộ đối với danh mục thuốc giai đoạn 2013-2015 nhằm bảo đảm tính đại diện cao. Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng tỷ lệ % và phương pháp tổng hợp phân tích chính sách. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác các biến động về cơ cấu chi phí, đo lường độ phân tán giá thầu và đánh giá toàn diện các mắt xích quản trị trong quy trình mua sắm dược phẩm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu chi phí thuốc tại các cơ sở y tế đã giảm từ mức trên 60% giai đoạn 2009-2012 xuống còn 48,7% vào năm 2015, tuy nhiên tỷ trọng tiêu thụ thuốc ngoại nhập vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo khi năm 2013 có tới 11.923 thuốc nhập khẩu trên tổng số 22.615 số đăng ký thuốc lưu hành.

Thứ hai, kết quả phân tích chỉ ra sự bất cập sâu sắc về biên độ chênh lệch giá thuốc trúng thầu giữa các cơ sở y tế. Đơn cử cùng hoạt chất Cefuroxim 500mg dạng lọ, chênh lệch giá giữa thuốc sản xuất trong nước và thuốc ngoại nhập dao động từ 33% đến 83%; đồng thời mức chênh lệch giá thuốc của cùng một hãng sản xuất giữa các bệnh viện trên cùng địa bàn lên đến 28%.

Thứ ba, công tác đấu thầu thuốc tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trong giai đoạn 2013-2015 vẫn phụ thuộc vào phương thức đấu thầu đơn lẻ với quy trình xét thầu thủ công kéo dài, trong khi cả nước đã có 56 địa phương và 119 hội đồng chuyển đổi sang mô hình đấu thầu tập trung để chuẩn hóa danh mục và bình ổn giá.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trên bắt nguồn từ sự thay đổi liên tục của các văn bản pháp lý hướng dẫn (từ Thông tư liên tịch 10/2007 đến Thông tư liên tịch 01/2012 và hệ thống Thông tư 09, 10, 11/2016/TT-BYT), trình độ chuyên môn về nghiệp vụ đấu thầu của cán bộ kiêm nhiệm chưa đồng đều và sự thiếu hụt công cụ phần mềm hỗ trợ chấm thầu tự động.

Các kết quả nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc xuất xứ (nội địa so với nhập khẩu) giai đoạn 2013-2015 và bảng đối chiếu đa biến thể hiện biên độ biến động giá thầu của các nhóm thuốc chủ lực. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của các chuyên gia trong ngành y tế, khẳng định rằng mô hình đấu thầu tập trung kết hợp tiêu chí kỹ thuật chuẩn hóa là chìa khóa then chốt để loại bỏ hiện tượng phân tán giá, nâng cao hiệu lực kiểm soát của cơ quan bảo hiểm xã hội và tối ưu hóa ngân sách khám chữa bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện quy trình lập kế hoạch và xây dựng giá gói thầu. Chủ thể thực hiện là Hội đồng thuốc và điều trị phối hợp với Khoa Dược. Hành động cụ thể: Tổng hợp danh mục thuốc sát với mô hình bệnh tật, xác định cơ số dự trữ an toàn từ 2 đến 3 tháng cho cả năm và tham chiếu cơ sở dữ liệu giá trúng thầu từ 119 hội đồng thầu trên cả nước. Mục tiêu đo lường: Giảm độ sai lệch dự toán dưới 5%, hoàn thành việc thẩm định kế hoạch trước ngày 30 tháng 9 hàng năm.

Hai là, chuẩn hóa thang điểm và lượng hóa tiêu chí chấm thầu kỹ thuật. Chủ thể thực hiện là Ban Giám đốc và Tổ chuyên gia đấu thầu. Hành động cụ thể: Xây dựng tiêu chí chấm thầu minh bạch theo thang điểm chi tiết thay vì đánh giá cảm tính, ưu tiên các mặt hàng thuốc trong nước đáp ứng tiêu chuẩn theo Thông tư 10/2016/TT-BYT. Mục tiêu đo lường: Nâng tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước trúng thầu lên tối thiểu 40% trong lộ trình 2 năm tới.

Ba là, ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa quy trình đấu thầu. Chủ thể thực hiện là Phòng Công nghệ thông tin phối hợp Khoa Dược. Hành động cụ thể: Triển khai phần mềm quản lý dược tích hợp module chấm thầu điện tử, liên thông trực tiếp với hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Mục tiêu đo lường: Rút ngắn 30% thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu, bảo đảm thời gian phát hành thông báo sửa đổi hồ sơ mời thầu trước thời điểm đóng thầu tối thiểu 10 ngày.

Bốn là, chuẩn hóa năng lực chuyên môn và đào tạo nhân lực đấu thầu. Chủ thể thực hiện là Phòng Tổ chức cán bộ và Ban Giám đốc Bệnh viện. Hành động cụ thể: Tổ chức đào tạo nghiệp vụ đấu thầu theo Thông tư 11/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho 100% cán bộ tham gia công tác thầu. Mục tiêu đo lường: Đạt tỷ lệ tối thiểu 50% cán bộ Khoa Dược có chứng chỉ hành nghề đấu thầu chuyên nghiệp trong vòng 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Lãnh đạo bệnh viện và Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện công lập. Lợi ích: Vận dụng chu trình quản lý 5 bước để chuẩn hóa quy trình mua sắm thuốc, kiểm soát giá thầu và cân đối nguồn quỹ bảo hiểm y tế hiệu quả.

Nhóm thứ hai: Cán bộ chuyên trách Khoa Dược và Tổ chuyên gia xét thầu. Lợi ích: Nắm vững phương pháp xây dựng giá kế hoạch, dự trù cơ số an toàn 2 đến 3 tháng, quản lý hạn mức chào hàng cạnh tranh dưới 5 tỷ đồng và mua sắm trực tiếp không vượt quá 130%.

Nhóm thứ ba: Cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Y tế, Sở Y tế và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. Lợi ích: Sử dụng bằng chứng thực nghiệm về mức chênh lệch giá từ 28% đến 83% để hoàn thiện cơ chế đấu thầu tập trung cấp quốc gia và địa phương.

Nhóm thứ tư: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản trị y tế. Lợi ích: Khai thác khung lý thuyết, phương pháp phân tích định lượng tỷ lệ % và hệ thống số liệu thực tiễn làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu kinh tế y tế.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Tại sao chi phí tiền thuốc luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện? Trả lời: Giai đoạn 2009-2012, chi phí thuốc chiếm trên 60% và đến năm 2015 là 48,7% tổng chi phí điều trị. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng thuốc chuyên khoa cao và nguồn thuốc phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu với 11.923 thuốc ngoại trên tổng số 22.615 số đăng ký lưu hành, tạo áp lực lớn lên ngân sách y tế.

Câu 2: Điểm khác biệt căn bản giữa mô hình đấu thầu thuốc tập trung và đấu thầu đơn lẻ là gì? Trả lời: Đấu thầu tập trung do Sở Y tế hoặc Bộ Y tế tổ chức cho các cơ sở y tế trên địa bàn như tại 56 địa phương, giúp thống nhất một mức giá chung. Ngược lại, đấu thầu đơn lẻ do từng bệnh viện tự thực hiện, dễ làm phát sinh chênh lệch giá thuốc cùng loại lên đến 28% giữa các đơn vị.

Câu 3: Cơ số dự trữ thuốc khi lập kế hoạch đấu thầu hàng năm được xác định như thế nào? Trả lời: Kế hoạch đấu thầu căn cứ vào số lượng tiêu thụ thực tế năm trước, xu hướng bệnh tật và cộng thêm cơ số dự trữ gối đầu từ 2 đến 3 tháng. Việc này bảo đảm bệnh viện duy trì nguồn thuốc điều trị liên tục trong thời gian hoàn tất các thủ tục mở thầu và ký hợp đồng.

Câu 4: Điều kiện áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh trong mua sắm thuốc tại bệnh viện là gì? Trả lời: Gói thầu chào hàng cạnh tranh phải có giá trị không vượt quá 5 tỷ đồng, có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt và đơn vị phải bảo đảm sẵn nguồn vốn thanh toán theo tiến độ thực hiện hợp đồng.

Câu 5: Việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp khắc phục hạn chế gì trong công tác chấm thầu? Trả lời: Số hóa giúp thay thế quy trình chấm thầu thủ công, rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ, loại bỏ đánh giá cảm tính và đồng bộ hóa kết quả lựa chọn nhà thầu với dữ liệu của 119 hội đồng thầu trên toàn quốc.

Kết luận

Năm điểm đúc kết cốt lõi từ luận văn:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình quản lý 5 bước trong đấu thầu mua sắm thuốc tại bệnh viện công lập.
  • Nhận diện thực trạng chi phí tiền thuốc giảm từ trên 60% xuống 48,7% và phân tích mức chênh lệch giá thuốc nội - ngoại lên đến 83%.
  • Đánh giá trung thực những hạn chế về quy trình xét thầu thủ công và năng lực chuyên môn tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động nhằm chuẩn hóa tiêu chí kỹ thuật và đạt mục tiêu 50% cán bộ dược có chứng chỉ đấu thầu.
  • Khẳng định lộ trình chuyển đổi số và đấu thầu tập trung là yêu cầu bắt buộc để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng quỹ bảo hiểm y tế.

Đóng góp chính của luận văn là xây dựng khung giải pháp quản trị thực tiễn giúp nâng cao hiệu quả mua sắm công tại các bệnh viện chuyên khoa tuyến đầu. Trong giai đoạn 2016-2020, các cơ sở y tế cần nhanh chóng hoàn thiện tiêu chí chấm thầu và đẩy mạnh tin học hóa để nâng cao tính minh bạch. Các đơn vị khám chữa bệnh hãy chủ động áp dụng ngay các khuyến nghị từ nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa chi phí và bảo đảm cung ứng thuốc an toàn cho người bệnh.