phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về chứng khoán phái sinh và thị trƣờng chứng khoán phái sinh Chƣơng 2: Thực trạng về thị trƣờng chứng khoán phái sinh ở Việt Nam. Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển thị trƣờng chứng khoán phái sinh ở Việt Nam. 2 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1. Chứng khoán phái sinh 1.1 Khái niệm chứng khoán phái sinh Công cụ phái sinh đƣợc hiểu là những công cụ đƣợc phát hành trên cơ sở những công cụ đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận.
Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác nhƣ tỷ giá, cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất, chè, cà phê… Công cụ phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro. Mặc dù xuất hiện lần đầu tiên với tƣ cách là một công cụ phòng chống rủi ro nhƣng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trƣờng tài chính, các công cụ phái sinh cũng đƣợc sử dụng nhiều hơn để tìm kiến lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ. Chính vì những biến thái nhƣ trên nên không phải lúc nào sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro cũng có hiệu quả. Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi và mang theo một số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thƣờng.
Sự sụp đổ của thị trƣờng tài chính Mỹ năm 1987 đƣợc đẩy nhanh nhờ sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, đƣợc mua bán các hợp đồng bảo hiểm danh mục đầu tƣ. Những ngƣời bảo hiểm này đã đầu tƣ mạnh vào thị trƣờng mà nếu nhƣ không có kỹ thuật này thì có thể họ đã không làm nhƣ vậy. Hay nhƣ Great Britain‟s Bearing, một trong những ngân hàng lâu đời nhất thế giới đã phá sản năm 1995 khi đầu cơ các hợp đồng tƣơng lai trong một thƣơng vụ ở Singapore. Tuy vậy, các công phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và đƣợc sử dụng rộng rãi tại các thị trƣờng tài chính lớn của thế giới.
Chúng ta hiểu công cụ phái sinh là công cụ xuất phát từ một công cụ gốc nào đó, các công cụ phái sinh có thể đƣợc tổng kết trong bảng sau: Bảng 1.1: Các công cụ phái sinh Tài sản cơ Hợp đồng Hợp đồng Hợp đồng Hợp đồng Sản phẩm sở tƣơng lai quyền chọn hoán đổi kỳ hạn tổng hợp (Underlying (Futures) (Options) (Swaps) (Forwards) (Synthetic Asset) Product) Hợp đồng Mũ, sàn và Hoán đổi Kỳ hạn lãi Quyền chọn 3 Tiền gửi tƣơng lai lãi cổ (Caps, lãi suất suất về hợp (Deposit) suất floors, đồng tƣơng collars) lai lãi suất, hợp đồng hoán đổi Hợp đồng Quyền chọn Quyền Trái phiếu tƣơng lai trái phiếu chọn về hợp trái phiếu đồng tƣơng lai trái phiếu Hợp đồng Quyền chọn Hoán đổi Kỳ hạn trao Quyền chọn Ngoại tệ tƣơng lai tiền tệ tiền tệ đổi ngoại tệ về hợp tiền tệ đồng tƣơng lai tiền tệ, hợp đồng hoán đổi tiền tệ Hợp đồng Quyền chọn Hoán đổi Quyền chọn tƣơng lai vốn vốn về hợp Vốn, cổ chỉ số vốn, đồng tƣơng phiếu hợp đồng lai chỉ số tƣơng lai về vốn. Hợp cổ phiếu đồng tƣơng khác lai mua bán cổ phiếu 4 Hợp đồng Hoán đổi Quyền chọn Hàng hóa tƣơng lai hàng hóa về hợp hàng hóa đồng tƣơng lai hàng hóa (Nguồn : [7, tr.45]) Nhƣ vậy, công cụ phái sinh khá rộng bao gồm cả công cụ phái sinh từ những tài sản không phải là chứng khoán và chứng khoán. Trong tiếng Anh ngƣời ta có hai từ riêng biệt : Derivative và Devirative instrument nhƣng họ cho hai là một (Derivative short for devirative instrument) và không phân biệt chứng khoán phái sinh và công cụ phái sinh. Qua một số tính chất về chứng khoán, công cụ phái sinh nhƣ trên.
Chúng ta có thể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh nhƣ sau : Chứng khoán phái sinh là một công cụ tài chính được thể hiện dưới dạng hợp đồng giữa hai bên mua và bán, có giá trị được xác định dựa trên giá trị của tài sản cơ sở và được thanh toán tại một thời điểm nhất định trong tương lai.2 Đặc điểm của chứng khoán phái sinh Thứ nhất, Giá trị của CKPS thay đổi theo sự thay đổi về giá của tài sản cơ sở. CKPS bản thân nó không có giá trị nội tại mà giá trị của nó bắt nguồn từ giá trị của của tài sản gốc, biến thiên theo sự thay đổi giá trị tài sản gốc. Thứ hai, CKPS không yêu cầu đầu tƣ ban đầu hoặc yêu cầu đầu tƣ ban đầu thấp hơn so với các loại họp đồng khác. Đặc biệt, đối với các CKPS đƣợc niêm yết trên thị trƣờng tập trung, để giao dịch nhà đầu tƣ chỉ cần ký quỹ một phần giá trị của CKPS dự kiến giao dịch.
Thứ ba, việc mua/bán CKPS đƣợc thanh toán vào một ngày trong tƣơng lai đƣợc quy định trong hợp đồng phái sinh. Việc thanh toán này có thể đƣợc thực hiện hoặc bằng vật chất (PhysicalDelivery) hoặc bằng tiền (CashSettlemen) TÀI SẢN CƠ SỞ 5 Cổ phiếu Chỉ số CP Trái phiếu Ngoại hối Lãi suất HĐTL HĐQC HĐHĐ HĐKH futures options Swap forward (Nguồn: Do tác giả tổng hợp) 1.3 Phân loại chứng khoán phái sinh 1.1 Hợp đồng kỳ hạn Khái niệm : Hợp đồng kỳ hạn (Forward) là hợp đồng thỏa thuận trƣớc để mua hoặc bán một lƣợng tài sản, chứng khoán tại một thời điểm nhất định trong tƣơng lai với một mức giá xác định trƣớc. Hợp đồng kỳ hạn là một loại công cụ phái sinh đặc biệt đơn giản. Đây là thoả thuận mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tƣơng lai với một mức giá xác định.
Công cụ này khác với loại hợp đồng giao ngay, là sự thoả thuận bán hoặc mua một tài sản vào ngày hiện tại. Ví dụ, một hợp đồng kỳ hạn 3 tháng đối với trái phiếu có kỳ hạn 10 năm và lãi suất coupon 12% bao gồm: - Ngƣời mua và ngƣời bán thỏa thuận tại thời điểm t = 0 về giá và khối lƣợng trái phiếu. - Việc thanh toán và giao nhận trái phiếu chỉ đƣợc tiến hành tại thời điểm sau 3 tháng. 6 Nếu mức lãi suất kỳ hạn đƣợc thỏa thuận là 12,5428%/ năm thì cứ 100 USD mệnh giá sẽ có giá là 97 USD và sau thời hạn 3 tháng ngƣời mua sẽ thanh toán cho ngƣời bán 97 USD để nhận từ ngƣời bán trái phiếu có mệnh giá là 100 USD.
Đây là giá mà ngƣời mua phải thanh toán cho ngƣời bán và ngƣời bán phải giao hàng cho ngƣời mua không phụ thuộc vào bất cứ điều gì xảy ra đối với giá trái phiếu trong thời gian 3 tháng và giá thị trƣờng của nó tại thời điểm sau 3 tháng. Đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn: - Hợp đồng kì hạn đƣợc sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ nhƣ rủi ro mất giá tiền tệ (Hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (Hợp đồng kì hạn với dầu mỏ). - Điều khoản hợp đồng do hai bên tự thỏa thuận. Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn đƣợc thống nhất trƣớc, nhƣng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết.
Ngƣợc lại với giá kì hạn là giá giao ngay (Spot price), giá bán của tài sản đƣợc giao vào ngày giao ngay (Spot date), thƣờng là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí. Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dƣ (Forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn, hoặc khoản khấu trừ (Forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn. - Hợp đồng kỳ hạn không theo những chuẩn mực đƣợc tiêu chuẩn hóa của một thị trƣờng tập trung. Hợp đồng kì hạn đƣợc tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trƣờng tập trung gọi là hợp đồng tƣơng lai (Futures contract).
Hợp đồng tƣơng lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhƣng nó có những đặc trƣng rât riêng. Các loại hợp đồng kỳ hạn: - Hợp đồng kỳ hạn hàng hóa (Nông sản, kim loại, nhiên liệu) - Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (Liên ngân hàng, tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phƣơng) - Hợp đồng kỳ hạn chỉ số cổ phiếu - Hợp đồng kỳ hạn ngoại hối 1.2 Hợp đồng tƣơng lai Khái niệm: Hợp đồng tƣơng lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lƣợng và mức giá nhất định vào ngày xác định trƣớc trong tƣơng lai (Trích dẫn theo luật chứng khoán Việt Nam 2007) Đặc điểm của hợp đồng tƣơng lai: 7 - Hợp đồng tƣơng lai là hợp đồng kỳ hạn đƣợc tiêu chuẩn hóa về điều khoản hợp đồng, kỳ hạn hợp đồng, giá trị, khối lƣợng của tài sản cơ sở do cơ quan có thẩm quyền đặt ra - Hợp đồng tƣơng lai đƣợc thỏa thuận và mua bán thông qua ngƣời môi giới, đƣợc giao dịch trên thị trƣờng tập trung. - Khi xác lập trạng thái của hợp đồng tƣơng lai, cả bên mua và bên bán phải ký quỹ vào tài khoản ký quỹ theo quy định của sàn giao dịch. - Hợp đồng tƣơng lai đƣợc tính theo ngày theo giá thị trƣờng (Marking to market daily).
Điều đó có nghĩa là trong kỳ hạn của hợp đồng tƣơng lai, các khoản lãi/lỗ hàng ngày đƣợc cộng/trừ vào tài khoản ký quỹ của mỗi bên. - Nhà đầu tƣ có thể đóng vị thế của mình bất cứ lúc nào trong giao dịch hợp đồng tƣơng lai Các loại hợp đồng tƣơng lai: Hiện nay trên thế giới đó phát triển nhiều loại hình hợp đồng tƣơng lai. Một cách tổng quát có thể phân chia hợp đồng tƣơng lai thành hai loại chủ yếu đó là: - Hợp đồng tƣơng lai về hàng hoá: Trên thị trƣờng có nhiều loại hợp đồng tƣơng lai cho các sản phẩm hàng hoá “Thực” bao gồm hợp đồng tƣơng lai của các loại nông sản (Lúa mì, ngô, đƣờng, ca cao, cà phê…), kim loại (Vàng, bạc, nhôm, thiếc…), năng lƣợng (Dầu thô, khí ga…) - Hợp đồng tƣơng lai về tài chính: Là loại hợp đồng tƣơng lai dựa trên tài sản cơ sở là các tài sản tài chính.