Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Quản trị Kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh

1.1.2. Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh

1.1.3. Chức năng của cạnh tranh

1.1.4. Phân loại cạnh tranh

1.2. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh

1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.2. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.4. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.5. Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.5.1. Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
1.2.5.2. Mô hình ma trận SWOT

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam trên thị trường Việt Nam

2.2.1. Phân tích năng lực cạnh tranh theo các yếu tố cấu thành

2.2.2. Phân tích các áp lực cạnh tranh của công ty theo mô hình của Michael Porter

2.2.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

2.3.1. Các thành công đã đạt được

2.3.2. Các mặt còn hạn chế

2.4. Phân tích ma trận SWOT của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM

3.1. Mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

3.2. Xu thế phát triển thị trường ngành sữa

3.2.1. Thị trường thế giới

3.2.2. Thị trường trong nước

3.3. Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

3.3.1. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

3.3.2. Tăng khả năng về tài chính

3.3.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm

3.3.4. Tăng cường các hoạt động Marketing

3.3.5. Chính sách khuyến mại

3.3.6. Củng cố hệ thống phân phối trên cả nước

3.3.7. Mở rộng qui mô các vùng nguyên liệu

3.4. Một số kiến nghị

3.4.1. Đối với Nhà nước

3.4.2. Đối với ngành

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh thị trường hiện nay. Luận văn này sẽ phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Vinamilk, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vị thế của công ty trên thị trường. Vinamilk không chỉ là một trong những thương hiệu hàng đầu trong ngành sữa mà còn là biểu tượng của sự phát triển bền vững trong nền kinh tế Việt Nam.

1.1. Khái niệm và vai trò của năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng của một doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị phần trong môi trường cạnh tranh. Đối với công ty cổ phần sữa Việt Nam, năng lực cạnh tranh không chỉ giúp công ty tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của Vinamilk chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm, chiến lược marketing, và khả năng quản lý. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp xác định điểm mạnh và điểm yếu của công ty trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt.

II. Thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Vinamilk

Trong bối cảnh thị trường sữa ngày càng cạnh tranh, công ty cổ phần sữa Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức. Các đối thủ như Abbott, Nestlé và TH True Milk đang gia tăng áp lực cạnh tranh. Điều này đòi hỏi Vinamilk phải có những chiến lược phù hợp để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh.

2.1. Áp lực từ đối thủ cạnh tranh

Sự gia nhập của nhiều thương hiệu sữa quốc tế đã tạo ra áp lực lớn cho Vinamilk. Các công ty này không chỉ có nguồn lực tài chính mạnh mà còn có công nghệ sản xuất tiên tiến, điều này khiến Vinamilk cần phải cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng

Người tiêu dùng ngày càng có yêu cầu cao hơn về chất lượng và an toàn thực phẩm. Vinamilk cần phải nắm bắt xu hướng này để điều chỉnh sản phẩm và chiến lược marketing của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Vinamilk

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, công ty cổ phần sữa Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tăng cường khả năng quản lý và marketing.

3.1. Đầu tư vào công nghệ sản xuất

Việc đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại sẽ giúp Vinamilk nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất. Điều này không chỉ giúp công ty tăng cường năng lực cạnh tranh mà còn tạo ra lợi thế bền vững trên thị trường.

3.2. Tăng cường hoạt động marketing

Hoạt động marketing hiệu quả sẽ giúp Vinamilk tiếp cận được nhiều khách hàng hơn. Việc sử dụng các kênh truyền thông hiện đại và chiến lược quảng cáo sáng tạo sẽ giúp nâng cao nhận thức về thương hiệu và sản phẩm của công ty.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu này sẽ cung cấp những ứng dụng thực tiễn cho công ty cổ phần sữa Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày rõ ràng, giúp ban lãnh đạo có cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại và các giải pháp khả thi.

4.1. Phân tích SWOT của Vinamilk

Phân tích SWOT sẽ giúp Vinamilk nhận diện được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong môi trường cạnh tranh. Điều này sẽ là cơ sở để xây dựng các chiến lược phát triển phù hợp.

4.2. Kết quả từ các giải pháp đã thực hiện

Các giải pháp đã được triển khai sẽ được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu cụ thể. Kết quả này sẽ giúp Vinamilk điều chỉnh chiến lược và cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho Vinamilk

Kết luận của nghiên cứu sẽ tóm tắt những điểm chính về năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam. Hướng đi tương lai sẽ được đề xuất nhằm giúp công ty duy trì vị thế cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng khốc liệt.

5.1. Tầm nhìn dài hạn cho Vinamilk

Vinamilk cần xác định tầm nhìn dài hạn để phát triển bền vững. Việc xây dựng chiến lược phát triển rõ ràng sẽ giúp công ty định hướng đúng đắn trong tương lai.

5.2. Đề xuất các giải pháp tiếp theo

Các giải pháp tiếp theo sẽ được đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu. Điều này sẽ giúp Vinamilk có những bước đi phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Canh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv.điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi.

Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv. Đề cập tới cạnh tranh trong điền kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa K. Marx đã đưa ra khái niệm như sau: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [25]. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường.

Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường”[45]. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition). Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ thì.

Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được 9 các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của người dân nứơc đó. Còn trong Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất”[56] Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể”[68], ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua. Ở Việt nam khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường đề cập đến giành lợi thế về giá cả, hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế.

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt về khái niệm cạnh tranh song ta có thể rút ra từ các định nghĩa, các cách hiểu khác nhau các điểm hội tụ chung sau đây: Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những gười còn lại. Và để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau: Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận.

Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình. 10 Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông kệ kinh doanh ở trên thị trường. Còn giữa người mua với người mua, hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua.

Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nứơc) 1. Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của kinh tế thị trường. Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tậm: Sản xuất cái gì? Như thế nào? Cho ai?Do đó, người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm tron nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của doanh nghiệp.

Dưới sự tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thế kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt quá khả năng kinh doanh. Dưới tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt quá khả năng kinh doanh. Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường tự thân nó giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của người tiêu dùng và năng lực sản xuất hạn chế, do đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường. Các áp lực liên tục của người tiêu dùng buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng.

Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình 11 tích tụ và tập trung trong các điều kiện các yếu tố của sản xuất đều và luôn thiếu hụt. Cạnh tranh thực sự là một cuộc ganh đua, khi các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản là mâu thuẫn nhau. Do vậy cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo”, cạnh tranh là “linh hồn sống” của thị trường. Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý cụ thể.

Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của cá nhân được hình thành và bảo đảm. Cạnh tranh xuất hiện khi pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính đa dạng của các loại hình sở hữu với tính cách là nguồn gốc của cạnh tranh. Cạnh tranh hiện thân là động lực phát triển của xã hội; là nhân tố làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế. Nhìn từ phía các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng.

Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, do đó là động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cùng với mục đích tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau. Đây là tiền đề vật chất của các hình thái cạnh tranh. Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi được với các điều kiện của thị trường.

Ở nghĩa này, cạnh tranh là nhân tố hiệu chỉnh bên trong của thị trường. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức và uy tín của mỗi chủ thể kinh doanh. Dưới tác động điều tiết vĩ mô, sự cạnh tranh ở mỗi nước còn có bản chất chính trị khác nhau.

Tóm lại, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có các điều kiện sau: một là, phải có ít nhất hai chủ thể cùng tham gia cạnh tranh và các chủ thể có cùng mục đích phải đạt được; hai là, việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ; ba là, cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian không cố định, hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt 12 quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh); bốn là, sự cạnh tranh diễn ra trong không gian xác định hoặc hẹp (một tổ chức, một ngành, một địa phương), hoặc rộng (một nước, giữa các nước). Chức năng của cạnh tranh Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng. Tuy nhiên, tầm quan trọng của những chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ