phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng sau đây: Chƣơng 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI –DỊCH VỤ Chƣơng 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HÕA BÌNH Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ 3 KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH HÕA BÌNH CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI – DỊCH VỤ 1. DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp thƣơng mại - dịch vụ và đặc điểm Doanh nghiệp thƣơng mại - dịch vụ là tổ chức kinh tế hợp pháp chuyên kinh doanh để kiếm lời thông qua hoạt động mua - bán hàng hóa, hiện vật và cung cấp các dịch vụ trên thị trƣờng. Doanh nghiệp thƣơng mại - dịch vụ vừa là một tổ chức, một hệ thống xã hội vừa là một hệ thống kinh doanh.
Với chức năng là một tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ tuân theo quy luật của một tổ chức nói chung mà còn tuân theo các quy luật kinh tế trong quá trình vận động. Một doanh nghiệp không thể khép kín mà phải có môi trƣờng tồn tại nhất định, trong đó, doanh nghiệp có mối quan hệ thƣờng xuyên với những tổ chức và những con ngƣời có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của nó. Chức năng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp là hai chức năng không thể tách rời nhau, ngƣợc lại, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành chu trình trong kinh doanh mà trong đó doanh nghiệp thƣơng mại đảm nhận phần kinh doanh. Căn cứ để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào của doanh nghiệp chính là nhu cầu của thị trƣờng, nói một cách khác đó chính là nhu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa ngƣời tiêu dùng và doanh nghiệp là mối quan hệ hai chiều chặt chẽ với nhau.1: Chu trình kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại và dịch vụ Doanh nghiệp thƣơng mại - dịch vụ có đối tƣợng phục vụ là mọi nhu cầu của sản xuất, đời sống và đối tƣợng hoạt động là thị trƣờng trong nƣớc và thị trƣờng ngoài nƣớc. Nhiệm vụ của kinh tế dịch vụ là phải phát triển mạnh các loại dịch vụ, mở thêm những hình thức mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất và đời sống. Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp còn phải hƣớng tới những mục tiêu xã hội nhất định nhƣ: đảm bảo và tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động, đảm bảo phục vụ các chính sách chủ trƣơng phát triển kinh tế của Nhà nƣớc…. Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lƣợc sản xuất kinh doanh thích ứng cũng nhƣ phải có công cụ, giải pháp phù hợp để thực hiện chiến lƣợc đó. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại - dịch vụ Đặc trƣng chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại thuần túy là mua để bán hàng hóa hiện vật nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh của của doanh nghiệp thƣơng mại chủ yếu dựa trên yêu cầu có sự tham gia của ngƣời trung gian vào việc trao đổi hàng hóa giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu thụ nhằm có thể thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của hai phía. Trong trƣờng hợp này, doanh nghiệp thƣơng mại hoạt động kinh doanh trên cơ sở mua hàng hóa của ngƣời cần bán (ngƣời có nhu cầu giúp đỡ để tiêu thụ sản phẩm) để bán cho ngƣời cần mua (ngƣời có yêu cầu giúp đỡ để có sản phẩm thỏa mãn nhu cầu sử dụng).
Về thực chất, hoạt động của doanh nghiệp thƣơng mại là hoạt động dịch vụ. Thông qua hoạt động mua - bán trên thị trƣờng doanh nghiệp thƣơng mại vừa làm dịch vụ cho ngƣời bán (nhà sản xuất) vừa làm dịch vụ cho ngƣời mua (ngƣời tiêu thụ) và đồng thời đáp ứng lợi ích của chính mình là có lợi nhuận. Nhìn từ khía cạnh 5 này có thể hiểu doanh nghiệp thƣơng mại là doanh nghiệp dịch vụ, mặc dù dịch vụ của doanh nghiệp thƣơng mại luôn gắn liền với hàng hóa hiện vật. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI - DỊCH VỤ 1.
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá mọi hoạt động kinh tế xã hội. Hiệu quả là phạm trù có vai trò đặc biệt và có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế cũng nhƣ trong khoa học kinh tế. Từ trƣớc đến nay, các nhà kinh tế đã đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả. Có thể kể ra đây một vài quan điểm mang tính chất đại diện.
Hiệu quả là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để lựa chọn các phƣơng án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn của con ngƣời ở mọi lĩnh vực và mọi thời điểm. Chỉ tiêu hiệu quả là quan hệ so sánh giữa chi phí bỏ ra và hiệu quả thu về trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là một trƣờng hợp đặc biệt của chỉ tiêu hiệu quả. Căn cứ vào chi phí đã bỏ ra để thu kết quả thì chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cơ bản là: Chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đạt đƣợc Ở đây, hiệu quả kinh tế đƣợc xem xét chủ yếu ở hiệu quả kinh tế vốn đầu tƣ cơ bản, so sánh tỷ lệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt đƣợc.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn…) các yếu tố cần thiết của doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh theo mục đích nhất định. 6 “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng chi phí”. Quan niệm này đã biểu hiện đƣợc quan hệ so sánh tƣơng đối giữa kết quả đạt đƣợc với chi phí tiêu hao. Hơn nữa kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên kết mật thiết với yếu tố sẵn có, chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên quá trình kinh doanh và làm kết quả kinh doanh thay đổi.
Theo quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đƣợc xét trên phần bổ sung và chi phí bổ sung, nó mới chỉ dừng lại ở mức độ xem xét sự bù đắp chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh tăng thêm. Nếu biểu hiện theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp.
Đây là quan niệm khá phổ biến đƣợc rất nhiều ngƣời thừa nhận. Quan niệm này gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên quan niệm này chƣa biểu hiện tƣơng quan về lƣợng và chất, chƣa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quan điểm này ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất cơ giới hoá, nó phân quá trình kinh doanh thành những yếu tố, những công đoạn và hiệu quả đƣợc xem xét cho từng yếu tố. Tuy nhiên, hiệu quả của từng yếu tố đạt đƣợc không có nghĩa là hiệu quả kinh doanh cũng đạt đƣợc, nó chỉ đạt đƣợc khi có sự thống nhất, có tính hệ thống và đồng bộ giữa các bộ phận, các yếu tố. “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất”. Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc thực hiện hàng loạt các biện pháp có hệ thống, có tổ chức, có tính đồng bộ, có tính liên tục tại doanh nghiệp 7 nhằm đạt mục tiêu cuối cùng đó là hiệu quả cao.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tóm lại, cần hiểu phạm trù hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả hai mặt định lƣợng và định tính giữa kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lƣợng, ngƣời ta chỉ thu đƣợc hiệu quả kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn hiệu quả kinh tế càng cao và ngƣợc lại. Về mặt định tính mức độ hiệu quả kinh doanh thu đƣợc phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống doanh nghiệp, phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh.
Hai mặt định tính và định luợng của phạm trù hiệu quả kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức tạp và khó đánh giá chính xác. Phân loại hiệu quả kinh doanh Phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong công tác quản lý. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả kinh doanh, đồng thời đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại.
Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội. Cách phân loại này dựa vào lợi nhuận mà hoạt động kinh doanh mang lại cho công ty nhƣ lợi nhuận, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản. cho công ty là bao nhiêu. Bên cạnh đó còn dựa vào hiệu quả mà công ty mang lại cho xã hội và nền kinh tế nhƣ vấn đề thúc đẩy phát triển nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động.
đã đƣợc công ty giải quyết nhƣ thế nào. Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đƣợc từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc.