phần mở đầu, kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tƣ phát triển trong các doanh nghiệp vận tải hàng không. Chƣơng 2: Tình hình sử dụng vốn đầu tƣ phát triển ở Tổng công ty Hàng không Việt nam giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2007. Chƣơng 3: Giải pháp sử dụng hiệu quả vốn đầu tƣ phát triển ở Tổng công ty hàng không Việt Nam đến năm 2015. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUÂṆ VỀ VÔŃ ĐÂÙ TƢ PHAT́ TRIÊN̉ 1.1 Lý luận khái quát về vốn đầu tƣ phát triển 1.1 Khái quát một số vấn đề về vốn đầu tư phát triển 1.1 Khái niệm * Đầu tƣ: Đầu tƣ theo nghĩa rộng có nghĩa là sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai mà kết quả này thƣờng phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra.
Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tƣ.7] Đầu tƣ phát triển là bộ phận của đầu tƣ, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội.15] Vốn đầu tƣ phát triển là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền phản ánh toàn bộ chi phí đã chi ra để tạo ra sự tăng thêm tài sản tài chính, tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng xá, của cải vật chất), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,. của ngƣời dân). Theo nghĩa hẹp, đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ hoặc xã hội kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó.
Nhƣ vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tƣ thì đầu tƣ là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cƣ hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có. Tƣơng ứng với phạm vi đầu tƣ này có phạm trù tổng vốn đầu tƣ mà chúng ta gọi là Vốn đầu tƣ phát triển, có thời kỳ gọi là vốn đầu tƣ phát triển toàn xã hội. 9 Các nhà kinh tế đã chia đầu tƣ thành 3 loại chính nhƣ: đầu tƣ vào tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh; đầu tƣ vào tài sản lƣu động và đầu tƣ vào nhà ở. Đầu tư tài sản cố định: là sự bỏ vốn ra để xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng và mua sắm trang, thiết bị và các tài sản đủ tiêu chuẩn là TSCĐ của các đơn vị sản xuất kinh doanh làm tăng thực sự tài sản sản xuất.
Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính là những tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm. Đầu tư tài sản lưu động là sự bỏ vốn ra để làm tăng thêm giá trị hàng hoá tồn kho của các doanh nghiệp, bao gồm cả nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm tồn kho. Đầu tư nhà ở là sự bỏ vốn ra của các hộ gia đình, các chủ đất để xây dựng nhà ở mới dùng để ở và cho thuê. Tuy nhiên có những ý kiến cho rằng đầu tƣ xây dựng nhà ở không thuộc phạm vi đầu tƣ trên phƣơng diện toàn nền kinh tế.
Ngƣời ta cho rằng nhà ở thuộc tài sản tiêu dùng của các hộ gia đình. Nhƣng theo N.Gregory Mankiw, đầu tƣ nhà ở thuộc phạm trù đầu tƣ của nền kinh tế. Đồng thời thuật ngữ “Investment” của nhiều nƣớc hiện nay vẫn bao gồm cả lĩnh vực đầu tƣ về nhà ở. Vốn đầu tƣ là chỉ tiêu kinh tế cơ bản thu hút sự quan tâm của nhiều ngƣời.
Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích khác nhau mà mỗi ngƣời quan tâm đến nội dung của vốn đầu tƣ theo các giác độ khác nhau. * Vốn đầu tƣ: Vốn đầu tƣ là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tƣ. Nhƣ vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô vốn đầu tƣ trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: Vốn đầu tƣ làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tƣ tài sản lƣu động và Vốn đầu tƣ vào nhà ở. 10 Chỉ tiêu “Vốn đầu tƣ” với nội dung nhƣ trên là rất cần thiết cho việc tính toán các chỉ tiêu liên quan nhƣ: tích luỹ tài sản, vốn hiện có,.
và dùng trong phân tích về hiệu quả của đầu tƣ và các phân tích khác có liên quan đến vốn đầu tƣ, đồng thời khái niệm này cũng bảo đảm phạm vi của chỉ tiêu trong so sánh quốc tế.2 Vị trí và vai trò Xét theo khía cạnh đối tƣợng sử dụng thì vốn đầu tƣ phát triển có những vị trí và vai trò sau: - Ở phạm vi doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh hộ gia đình (sau đây gọi tắt là đơn vị kinh tế cơ sở), vốn đầu tƣ bao gồm giá trị mua sắm máy móc, nhà xƣởng, tài sản lƣu động và chi phí khác cho mục đích sản xuất của chính đơn vị cơ sở đó. - Vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc (khái niệm này sẽ nói rõ ở phần sau) bao gồm cả những chỉ tiêu công cộng cho hạ tầng kĩ thuật nhƣ cầu cống, đƣờng xá, đê điều, các công trình phúc lợi nhƣ trƣờng học, bệnh viện. Mặc dù có thể nó không tạo ra lợi nhuận hay mở rộng năng lực sản xuất cho cụ thể một ngành hay lĩnh vực nào, song hiển nhiên đây cũng là nguồn lực đƣợc sử dụng để nâng cao năng lực của cả nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tƣ ở doanh nghiệp và cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. - Ở phạm vi toàn quốc, vốn đầu tƣ phát triển không đơn thuần là phép cộng vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp và vốn đầu tƣ nhà nƣớc.
Phần chuyển nhƣợng vốn, tài sản giữa các doanh nghiệp đƣơng nhiên phải loại trừ vì nó không làm tăng năng lực sản xuất của quốc gia (mặc dù nó có thể làm cho các nguồn lực này hoạt động hiệu quả hơn). Tính toán chỉ tiêu vốn đầu tƣ ở phạm vi địa phƣơng (tỉnh, thành) thậm chí lại còn khó khăn hơn nhiều, không những nó phải loại trừ phần chuyển nhƣợng tài sản, thiết bị qua sử dụng, 11 chuyển nhƣợng vốn lƣu động (giữa các công ty trên địa bàn) nhƣng lại đƣợc tính nếu đó là mua bán, chuyển nhƣợng với các doanh nghiệp tỉnh ngoài. - Vốn đầu tƣ phát triển còn bao gồm cả những nguồn lực cho khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiên cứu - điều này phù hợp với nội dung và ý nghĩa của chỉ tiêu này. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và triển khai, đào tạo cán bộ trong xã hội hiện nay có mặt ở hầu hết các ngành, các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh những trung tâm, đơn vị lớn có ngân sách riêng, còn rất nhiều cơ quan đơn vị khác phần ngân sách này là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động thƣờng xuyên.3 Phân loại vốn đầu tư phát triển: Trƣớc những năm 2000, do chế độ và điều kiện hạch toán, chỉ tiêu “vốn đầu tư cơ bản” hay thường gọi là “vốn đầu tư xây dựng cơ bản” đƣợc sử dụng phổ biến. Nhƣng từ năm 2000 trở lại đây do thay đổi cơ chế quản lý, chế độ và điều kiện hạch toán, đồng thời quan điểm của các nhà kinh tế, chỉ tiêu “Vốn đầu tƣ phát triển” đã trở thành một chỉ tiêu thay thế chỉ tiêu “vốn đầu tƣ XDCB” (trong niêm giám của ngành thống kê hiện nay chỉ công bố số liệu của chỉ tiêu “vốn đầu tƣ phát triển”). Vốn đầu tƣ cơ bản và vốn đầu tƣ trong kinh tế Vốn đầu tƣ cơ bản (hay vẫn quen gọi là vốn đầu tƣ XDCB) là toàn bộ chi phí dành cho việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho nền kinh tế. Nội dung của vốn đầu tƣ cơ bản gồm: các khoản chi phí cho khảo sát thiết kế và xây lắp nhà cửa và vật kiến trúc; mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc; chi phí trồng mới cây lâu năm; mua sắm súc vật đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định và một số chi phí khác phát sinh trong quá trình tái sản xuất tài sản cố định.
12 Vốn đầu tƣ cơ bản không bao gồm chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định của các cơ sở sản xuất; chi phí khảo sát thăm dò chung không liên quan trực tiếp đến việc xây dựng một công trình cụ thể. Vốn đầu tư cơ bản gồm: vốn đầu tư xây lắp; vốn đầu tư mua sắm thiết bị và vốn đầu tư cơ bản khác. * Vốn đầu tƣ xây lắp (vốn xây lắp) là phần vốn đầu tƣ cơ bản dành cho công tác xây dựng và lắp đặt thiết bị, máy móc gồm: vốn đầu tƣ dành cho xây dựng mới, mở rộng và xây dựng lại nhà cửa, vật kiến trúc; vốn đầu tƣ để lắp đặt thiết bị, máy móc. * Vốn đầu tƣ mua sắm thiết bị (vốn thiết bị) là phần vốn đầu tƣ cơ bản dành cho việc mua sắm thiết bị, máy móc, công cụ, khí cụ, súc vật, cây con đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định bao gồm cả chi phí vận chuyển, bốc dỡ và chi phí kiểm tra, sửa chữa thiết bị máy móc trƣớc khi lắp đặt.
Đối với các trang thiết bị chƣa đủ là tài sản cố định nhƣng có trong dự toán của công trình hay hạng mục công trình để trang bị lần đầu của các công trình xây dựng thì giá trị mua sắm cũng đƣợc tính vào vốn đầu tƣ mua sắm thiết bị. * Vốn đầu tƣ cơ bản khác là phần vốn đầu tƣ cơ bản dùng để giải phóng mặt bằng xây dựng, đền bù hoa màu và tài sản của nhân dân, chi phí cho bộ máy quản lý của ban kiến thiết, chi phí cho xây dựng công trình tạm loại lớn.