CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HỖ TRỢ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Nhân lực, chất lượng nhân lực trong các khu công nghiệp 1. Khái niệm nhân lực, chất lượng nhân lực và chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về nhân lực.
Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường thì nhân lực được hiểu là lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động [28, tr. Theo TS Đỗ Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan thì: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [9, tr. Nhân lực còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội. Thống nhất với các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hay xã hội.
Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Khái niệm chất lượng nhân lực CLNL là trạng thái nhất định của đội ngũ nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của nhân lực. Trong thực tiễn, CLNL được đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu chủ yếu sau: 8 - Thể lực của đội ngũ nhân lực - Trí lực của nhân lực - Phẩm chất tâm lý xã hội của nhân lực: - Chỉ tiêu tổng hợp: nhân cách, đạo đức lối sống; khả năng sẵn sàng làm việc; khả năng cạnh tranh; khả năng thích ứng… 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực - Giới tính, độ tuổi, thể chất: Thể chất của nhân lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất.
Thể chất của nhân lực được biểu hiện ở sức khỏe, chiều cao, trọng lượng, tuổi thọ… Vì vậy, CLNL được duy trì và phát triển bằng vật chất, tinh thần, tư tưởng, thái độ của chính nhân lực, trong đó nhu cầu vật chất là điều kiện cần và đủ để bù đắp sự hao phí năng lượng của cơ thể con người. Nâng cao sức khỏe cho con người để tăng chất lượng đội ngũ nhân lực là yêu cầu cấp thiết và quan trọng của mỗi DN, mỗi tổ chức hiện nay. Về giới tính: Giới tính của nhân lực cũng có những nét đặc thù riêng. Đối với nhân lực là nam thì yêu cầu nâng cao chất lượng thường phù hợp với những công việc nặng nhọc dành cho phái nam và ngược lại.
- Môi trường và điều kiện đào tạo: Môi trường là cơ sở cho việc xác định mục tiêu, chiến lược nói chung và hoạch định nâng cao CLNL nói riêng. Đối với nhân lực thì môi trường quan trọng nhất đó là môi trường làm việc. Vì vậy, các DN, các tổ chức khi đào tạo nhân lực cần phải tạo điều kiện thuận lợi, phương tiện làm việc và trang thiết bị phải đảm bảo đầy đủ cơ hội cho mọi người trong đơn vị đều có thể phát huy hết khả năng trí tuệ của mình, có cơ hội thăng tiến như nhau, tạo một bầu không khí làm việc dân chủ, bình đẳng, lành mạnh, vui vẻ, thân thiện 9 để mọi người cảm thấy phấn khởi và tự tin khi làm việc, xem DN, tổ chức đó như là ngôi nhà thứ hai của mình. Điều này sẽ giúp cho chất lượng công việc tốt hơn và sẽ thu hút được nhân lực chất lượng cao từ nơi khác đến nhiều hơn.
Trong đào tạo nâng cao CLNL thì vấn đề quan trọng là phải có được môi trường thực hành tốt. Muốn nâng cao CLNL chúng ta phải tạo môi trường tốt để cho người được đào tạo thực hành thông qua vận hành máy móc, thiết bị, nghiên cứu khoa học công nghệ hiện đại… Thực hành là cơ sở, tiền đề và điều kiện quan trọng nhất để người học đạt hiệu quả cao trong hoạt động sau này. - Chính sách, chế độ thu hút, đào tạo và sử dụng nhân lực: Để sử dụng hiệu quả và duy trì nhân lực, các nhà quản trị đều hiểu rằng cần phải xây dựng và thực hiện đồng bộ các chính sách hướng đến động viên, khích lệ cán bộ nhân viên làm việc hiệu quả, duy trì phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong DN. Cụ thể là phải thiết lập và áp dụng các chính sách hợp lý về lương bổng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, hoàn thiện môi trường, điều kiện làm việc, thực hiện các chế độ về y tế, bảo hiểm và an toàn lao động.
- Mức độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với đội ngũ nhân lực: Thu nhập chính là lợi ích trực tiếp, là động lực rất lớn tác động đến chất lượng làm việc của NLĐ. Các tổ chức, DN thường có quan điểm, mục tiêu khác nhau khi xếp đặt hệ thống trả công, nhưng nhìn chung họ đều hướng tới bốn mục tiêu cơ bản là: thu hút nhân lực; duy trì và giữ được những người giỏi; kích thích động viên đội ngũ nhân lực; đáp ứng yêu cầu của luật pháp. Thực hiện tốt các mục tiêu này sẽ giúp cho các DN có lực lượng nhân lực có chất lượng. Đồng thời, việc quan tâm nâng cao đời sống tinh thần cho đội ngũ nhân lực cũng là một vấn đề khiến các DN phải quan tâm hàng đầu.
Tạo bầu không khí tốt lành trong DN khiến NLĐ vui vẻ trong lúc làm việc, coi DN 10 như một bộ phận của cuộc đời mình để gắn bó, để đoàn kết, để gắng sức làm việc cũng góp phần nâng cao CLNL. - Ý thức chủ quan của đội ngũ nhân lực: Nâng cao CLNL không chỉ xuất phát từ yêu cầu sản xuất, mà còn xuất phát từ chính nhu cầu của con người muốn nâng cao chất lượng cuộc sống. Bởi việc tăng cường sức khỏe, mở rộng tri thức, nâng cao trình độ tay nghề không chỉ do kết quả của quá trình phát triển sản xuất, mà còn xuất phát từ chính bản thân của con người. Con người luôn muốn vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội trong quá trình phát triển của mình.
Vì vậy, con người luôn luôn tìm tòi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm. Những mong muốn đó tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao CLNL. - Cơ hội phát triển của đội ngũ nhân lực: Nền kinh tế nước ta không ngừng phát triển kéo theo sự thay đổi trang thiết bị, kỹ thuật, khoa học và công nghệ theo hướng hiện đại. Trong điều kiện đó, NLĐ ngày càng được tạo cơ hội tiếp cận với các máy móc thiết bị, kỹ thuật và công nghệ mới, hiện đại.
Ngày nay, các DN, cơ quan và tổ chức, của quốc gia đã tập trung quan tâm đến chế độ đào tạo ban đầu, đào tạo thường xuyên và đào tạo lại đội ngũ nhân lực. - Điều kiện sống cho nhân lực và gia đình họ: Về bản chất con người là một thành viên trong tập thể, vị trí và thành tựu của tập thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hành động tình cảm hơn là lý trí khi muốn cảm thấy có ích và quan trọng, muốn tham gia vào công việc chung và được nhìn nhận như một con người. Vấn đề quan trọng, động lực quan trọng nhất của nhân lực là họ làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình.
Vì vậy, muốn khuyến khích nhân lực làm việc thì DN phải đảm bảo thu nhập cho NLĐ, giúp họ ổn định cuộc sống gia đình, khi đó họ sẽ an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với DN. Vai trò của nhân lực và chất lượng nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội - Vai trò của nhân lực chính là vai trò của con người: Nói đến nhân lực là nói đến con người. Con người có vai trò quyết định đối với mọi qúa trình phát triển KT - XH.I Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là NLĐ” [14, tr. Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã khẳng định: “Nâng cao dân trí và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của CNH, HĐH” [17, tr82].
- Nhân lực là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất: Nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực. Nhân lực sáng tạo ra nguồn vốn, nguồn lực khoa học công nghệ, cải tạo nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, cải tạo môi trường sinh thái. - Nhân lực là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế - xã hội: Nhân lực quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực khác. Nhân lực là chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Các nguồn lực khác chỉ là khách thể. - Nhân lực là động lực to lớn phát triển KT - XH: Nhân lực vừa là động lực, vừa là mục tiêu của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nhân lực không chỉ tham gia tạo cung mà còn tham gia tạo cầu của nền kinh tế. KCN có phát triển được hay không là phải dựa trên các nguồn lực chủ yếu, đó là: nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, mặt bằng.
Song, chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển của các KCN, những nguồn lực khác muốn phát huy được hiệu quả thì chỉ có 12 thể thông qua nguồn lực con người. - Nhân lực cao gia tăng năng lực nội sinh của KCN (thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh, khả năng thu hút đầu tư, tăng khả năng hội nhập kinh tế quốc tế). - Sự xuất hiện của nhân lực có chất lượng cao góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH: Nhân lực cao tạo điều kiện để KCN áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế. Ngoài ra, nhân lực có chất lượng trong các KCN góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế địa phương 1.