Chương 1. Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ của Tổ chức KH&CN công lập Chương 2. Thực trạng việc thực hiện cơ chế tự chủ của các Tổ chức KH&CN công lập và giải pháp khắc phục những rào cản 7 CHUONG 1. CƠ SO LÝ LUẬN VE CƠ CHE TỰ CHỦ CUA TO CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 1.
Khái quát về Rào cản Theo từ điển Anh Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Rào cản là “Hàng rào, chướng ngại vật, hỗ ngăn cách, điểm cách biệt”. Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm Rao cản là “rào chắn hoặc một chướng ngại vật để ngăn, không cho vượt qua; dùng dé vi sự trở ngại lon khiến ngăn cách, cản trở trong việc giao lưu, thông thương ”°. Từ điển bách khoa toàn thư Merriam Webster bổ sung định nghĩa Rao cản chỉ “đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được dùng để tách biệt, phân định ranh giới, hoặc là các chướng ngại vật nói chung”. Qua các khái niệm nêu trên, tác giả có thể khái quát Rào cản là những chướng ngại (vật, quy định.) gây cản trở hoặc không cho phép con người thực hiện một hành động hay sự vật, sự việc nào đó theo mong muốn.
Ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế chúng ta thường nghe nhắc nhiều đến những cụm từ: “rào cản ngôn ngữ”, “rào cản văn hóa”, “rào cản kỹ thuật”, “rào cản thương mại”. một rào cản chỉ có tác dụng trong một thời điểm và hoan cảnh cụ thé. Tự chủ và Quyền tự chủ Tự trị theo tiếng Anh là autonomy, có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là autonomos, trong đó, auto là “tự mình”, còn nomos là “luật”. Autonomos có nghĩa là “tự đặt ra luật lệ” và “Autonomos” còn có ý nghĩa khác là có quyền tự do quản lý chính mình hoặc kiểm soát công việc của chính mình.
Tức là: có quyền tự do hành động độc lập. Trong từ điển tiếng Việt, do tác giả Hoàng Phê chủ biên, tự chủ là “7 diéu hành, quản lý mọi công việc cua mình, không bị ai chỉ phối. ? Theo Đại học QGHN, Trường ĐHNN (2006), Từ điển Anh Việt, NXB Giáo dục. 3Vién ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Da Nẵng.com/dictionary/barrier 5 Trung tâm Từ điển ngôn ngữ (1992), Hà Nội, tr.
8 Trong Đại từ điền tiếng Việt, do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, , tự chủ là “Tự mình làm chủ, không dé bị phụ thuộc hoặc bị chỉ phối "5. Qua đó ta thấy được có nhiều khái niệm khác nhau về tự chủ nhưng cơ bản chỉ xoay quanh 02 đối tượng là cá nhân hoặc tô chức và quyền tự chủ bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố. Trong những năm đầu thế kỷ, Châu Âu cũng từng sôi nổi nhiều với câu chuyện trao quyền tự chủ cho các đại học công lập và các viện nghiên cứu. M6t tiên dé cho câu chuyện này là chất lượng của các don vị này có thé được cải tiễn một cách tuyển tính so với mức độ tự chủ được trao’.
Trao quyền tự chủ có phải là trao quyền tự do cho tat cả những cá nhân có trách nhiệm thực hiện công việc được giao. Tự chủ có phải là tự do hay không? Và tự do đó là gì? Hay đó chính là quyền tự trị và tự quản của một tô chức? “Quyển tự chủ, khi thực hiện với tinh than trách nhiệm (responsibility) và trách nhiệm liên đới (accountability) chắc chắn sẽ dẫn đến sự xuất sắc trong học thuật, quản tri và quản lý tài chính của các tổ chức "Š. * Khai niệm khoa học tự tri Theo bai giảng cua tác giả Vũ Cao Đàm, Khoa học ty tri là những người hoạt động khoa học được tự quyết định phương hướng phát triển khoa học, tự quyết định các chương trình hợp tác, tự quyết định về tô chức, tự quyết định về nhân sự, tự tiềm kiếm nguồn tài trợ và tự quyết định về tài chính, xóa bỏ rảng buộc hành chính, tự trị trong xác định các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả khoa học. Các điểm chính về tự trị khoa học bao gồm: tự tri trong xác định phương hướng phát triển khoa học; tự trị trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ; xóa bỏ ràng buộc hành chính; tự trị chuyên đồi tổ chức và xác định các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động khoa học.
6 Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1999), Bộ Giáo dục và Dao tao, NXB Văn hóa - Thông tin, Ha Nội, tr. 7 Reicher & Tauch 2005, Sursock & Smidt 2010. 8 Triết lý Giáo dục của Trường Đại học Mumbai. Trong lĩnh vực xã hội học tri thức, sự tranh cãi về ranh giới của tự trị đã dừng ở việc ra đời một khái niệm vé ty tri tuong đối, là trường hợp một loại tự trị được hình thành và phát triển trong các nghiên cứu về KH&CN.
Theo đó, hình thức tự trị đang tồn tại trong khoa học hiện nay là tự trị phản ánh: có nghĩa là các tác nhân và cấu trúc trong lĩnh vực khoa học có quyền diễn giải hoặc lý giải các chủ đề đa dạng đang diễn ra trong các lĩnh vực xã hội và chính trị, cũng như tác động đến những lĩnh vực này về mặt lựa chọn dự án nghiên cứu. Lý thuyết về Tổ chức KH&CN 1. Lý luận về tổ chức Tổ chức là một hiện tượng xã hội nay sinh trong quá trình con người liên kết nhau để sản xuất và chung sống. Nhờ biết tổ chức mà con người đã làm thay đổi lịch sử của mình, từ một xã hội nguyên thủy, mông muội bước sang xã hội công nghiệp, văn minh, hiện đại.
Từ góc độ tiếp cận của mỗi bộ môn khoa học, khái niệm tô chức được phân biệt với một ý nghĩa khác nhau. Trong phạm vi đề tài này, khái niệm tổ chức được tiếp cận phân tích từ góc độ của bộ môn khoa học quản lý. Trong tác phẩm “Những nguyên lý cua công tác tổ chức ” xuất bản năm 1999, tác giả P. Kécgientxép cho rằng: “Tổ chức nghĩa là liên hiệp nhiễu người dé thực hiện một công tác nhất định "9.
Trong tiếng Anh hiện đại, thuật ngữ “tô chức” được chuyên ngữ là Organization dùng chỉ một nhóm người liên kết nhau theo một cách thức nao đây dé cung thuc hién muc tiéu chung.18] Theo cách tiếp cận của ông Mitokazu “Nói tới tổ chức là nói tới một hệ thong hợp lý tập hợp từ hai người trở lên để phát huy đến mức cao nhất năng lực tương hỗ nhằm đạt được mục tiêu và mục tiêu chung ”19 Khoa học tổ chức định nghĩa, tô chức là “24p thé của con người tập hop nhau lại dé thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó ”. Kecgienxev (1999), Những nguyên ý của công tác tổ chức, NXB Thanh niên, Hà Nội. 10 Mitokazu (1993), Nghệ thuật quản lý kiểu Nhật Ban, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10 Khoa học tô chức có nhiều điểm tương đồng với Luật học, Hành chính công (Public Aministration) khi quan niệm về tô chức, ở chỗ là đều xác định tổ chức do những cá nhân tập hợp lại vì mục tiêu chung, tô chức là một xã hội thu nhỏ.
Tổ chức có mục tiêu chung nên cũng có những quy tắc ứng xử chung đối với các thành viên. Bởi vậy mục tiêu chung là một trong những điều kiện quan trọng đề hình thành và duy trì hoạt động của tô chức. Phân tích khái niệm “tô chức” với ý nghĩa là “một nhóm người” tập hợp nhau lại để cùng thực hiện mục tiêu chung, cần nhận thay hai thuộc tính co ban của tổ chức là: Mét là, sự liên kết của một nhóm người theo một cách thức nhất định; Hai là, nhằm dé cùng thực hiện mục tiêu chung. Các nguôn lực của tô chức Đề duy trì và vận hành một tô chức, các nguồn lực là điều kiện quan trọng hàng đầu.
Tổ chức không thể hình thành và tồn tại nếu không có sự đảm bảo các nguồn lực cho nó. Một tô chức thường có it nhất 04 loại nguồn lực cơ bản sau đây: [20, tr.26] - Thứ nhất, Con người (nguồn nhân lực) là nguồn lực quan trọng bậc nhất và quyết định việc hình thành va phát triển tô chức. Con người làm nên tổ chức và là “tài nguyên quý giá nhất của tổ chức”. Theo vị trí công việc khác nhau trong tổ chức, con người được phân công làm việc ở các vị trí khác nhau: người lãnh đạo, người quản lý, nhân viên tác nghiệp.tạo ra cau trúc thang bậc quyền hạn và trách nhiệm.
Các nhóm người trong tô chức ở các vị trí khác nhau tạo nên cấu trúc tô chức. Moi sự biến đổi nói chung của tô chức phụ thuộc vào sự biến động của yếu tô con người. Con người chi phối từ việc hình thành mục tiêu, chiến lược đến các hình thức cấu trúc và cơ chế vận hành và cuối cùng là hiệu qua của tổ chức. Nói chung là sự sống còn của tổ chức phụ thuộc vào yếu tố con người.
- Thứ hai, Tài chính là nguồn lực không thé thiếu dé tổ chức duy trì và hoạt động. Nguồn tài chính của tổ chức được cung cấp bởi các hình thức khác nhau, song không một tô chức nào hoạt động mà không cần đến tài chính. Nguồn tài chính trước hết để phục vụ cho con người trong tô chức, sau đó là 11 nguồn vốn quý giá dé duy trì va phát triển các hoạt động của tô chức. Cùng với nguồn lực con người, nguồn tài chính càng phong phú, đồi dao thì điều kiện dé tô chức đạt mục tiêu, sứ mạng càng được đảm bảo.
- Thứ ba, Cơ sở vật chất, hạ tang kỹ thuật đóng vai trò đảm bao cho tổ chức vận hành theo thiết kế và cung cấp, hỗ trợ các điều kiện vật chất và kỹ thuật cho sự duy trì và hoạt động của tổ chức. - Thứ tư, Nguồn lực thông tin giúp cho tô chức duy trì mối liên hệ mật thiết với môi trường bên ngoài và thông suốt bên trong, tạo ra khả năng liên kết mạnh giữa tô chức với môi trường, thu tập thông tin dé tăng cường kha năng cạnh tranh, nham đạt được mục tiêu một cách nhanh nhất, bền vững nhất. Khoa học và Công nghệ * Khoa hoc Khái niệm về khoa hoc được hình thành cùng với lịch sử phát triển của loài người. Do khoa học luôn là yếu tố tác động mạnh mẽ tới sản xuất và đời sông xã hội và thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động như sản xuất, chiến đấu hay các lĩnh vực xã hội khác, nên khoa học cũng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.