Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN Đồng Hỷ là một huyện thuộc phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Đây là một địa danh có bề dày văn hóa, văn học, có nhiều điều kiện phát triển kinh tế riêng và của cả nước nói chung. Bên cạnh sự cố gắng phát triển về đời sống vật chất nhằm xây dựng cuộc sống, quê hương thì con người trên mảnh đất này cũng không ngừng bồi đắp để làm giàu thêm cho tâm hồn mình bằng những lễ hội, những câu chuyện kể… trong chiến lược phát triển kinh tế chính trị xã hội của vùng. Như vậy, đời sống vật chất, những điều kiện tự nhiên cũng có sự tác động rất lớn tới đời sống tinh thần của cư dân bản địa.
Cho nên việc tìm hiểu, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên xã hội chính là cơ sở bước đầu, làm tiền đề để tìm hiểu kho tàng văn hóa dân gian phong phú nơi đây. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hóa ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Điều kiện tự nhiên Theo sách Đại Nam nhất thống chí:“Huyện Đồng Hỷ ở cách phủ 14 dặm về phía đông bắc, đông tây cách 41 dặm, nam bắc cách nhau 97 dặm, phía đông đến địa giới huyện Tư Nông 6 dặm, phía tây đến địa giới huyện Phú Lương phủ Tùng Hóa 35 dặm, phía nam đến địa giới huyện Phổ Yên 45 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Võ Nhai 52 dặm” [22]. Đồng Hỷ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên.
Địa phận của huyện dài từ 12°32’ đến 21°51’ vĩ Bắc, 105°46’ đến 106°04’ kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn, phía Nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên. 10 c Địa hình của huyện có đặc điểm thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Độ cao trung bình là 80m so với mặt nước biển, nơi cao nhất là Lũng Phương xã Vân Lăng và Mỏ Ba xã Tân long trên 600m; nơi thấp nhất là Huống Thượng 200m.
Vùng Bắc và Đông Bắc có địa hình núi cao chia cắt phức tạp, có nhiều khu suối có độ cao trung bình là 120 m. Vùng giữa là địa hình vùng núi thấp đồi núi bát úp xen kẽ những cánh đồng ruộng, tương đối bằng phẳng. Điều này sẽ gây khó khăn về giao thông nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi để phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc song cũng tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ có giá trị… Toàn huyện có 26.448 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên 14.432,2 ha, rừng trồng 7. Ngoài ra huyện còn 4.869,2 ha rừng chưa trồng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc đã tạo nên những điều kiện nhất định cho sự phát triển kinh tế của vùng.
Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu nên khí hậu của tỉnh Thái Nguyên nói chung, huyện Đồng Hỷ nói riêng mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “Đồng Hỷ là huyện có khí lam chướng hơi nhẹ” [22]. Khí hậu được chia làm bốn mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu, đông. Vào mùa hạ tiết trời nóng bức, nhiệt độ trung bình từ 25 - 27°C, có nắng to, độ ẩm lớn vì mưa nhiều.
Lượng mưa tương đối cao, cường độ mạnh và mưa tập trung, có trận mưa chỉ trong một ngày mà khiến nhiều nơi bị ngập úng. Chuyển sang mùa thu khí hậu mát dần, đến cuối thu trời bắt đầu se lạnh. Mùa đông có gió mùa đông bắc, nhiệt độ hạ thấp dần từ 12 - 15°C có năm xuống 7°C (Năm 2016). Bước vào mùa xuân thường có mưa phùn, nhiệt độ ấm dần, các loài động vật, thực vật có dịp sinh sôi, phát triển.
Sự xuất hiện của mùa đông lạnh, khí hậu khô hanh đã gây nhiều trở ngại cho sản xuất và đời sống của con người. Song sự đa dạng về khí hậu đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của động vật và thực vật ở Đồng Hỷ. Nhiều loại cây 11 c có khả năng rút ngắn thời gian sinh trưởng và quay vòng nhiều lần trong một năm. Bản chất nóng ẩm của khí hậu là một trong những điều kiện thuận lợi rất căn bản để đẩy nhanh quá trình sinh trưởng cây trồng, nâng cao hiệu quả trao đổi chất và góp phần tăng sản lượng mùa màng.
Đây chính là cơ sở cho sự đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, phát huy lợi thế của các yếu tố sinh thái vùng. Đồng Hỷ có hai con sông lớn chảy qua là sông Cầu và sông Công. Sông Cầu - bắt nguồn từ xã Bằng Phúc (Chợ Đồn) chảy theo hướng Bắc Nam, dài 47 km, nằm ở biên giới phía tây Đồng Hỷ tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện với các vùng lân cận. Lưu lượng nước lớn nhất trung bình hàng năm 1.090 m3/gy, có lúc lên tới 4.300 m3/gy, mắc nhỏ nhất trung bình là 430 m3/gy.
Đoạn sông ở thượng nguồn dòng nước chảy xiết, càng về hạ lưu thì tốc độ dòng chảy chậm lại, mặt sông trở nên phẳng lặng, hiền hòa, thuận lợi cho thuyền bè đi lại. Sông Công bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá (Định Hóa) chảy qua Định Hóa, Đại Từ và Đồng Hỷ. Bên cạnh đó Đồng Hỷ còn có các con suối như: Khe Mo, Suối Tiên, Ngàn Khe… Có thể nói, sông ngòi không chỉ là tuyến đường thủy quan trọng, nguồn nước tưới cho đồng ruộng mà hàng năm còn bồi đắp cho huyện một lượng phù sa lớn, giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, chính trị của địa bàn. Đồng Hỷ có nhiều loại đất khác nhau trong đó núi chiếm 49% hình thành do sự phong phú trên đá mác ma, đá biến chất, đá trầm tích.
Đất đồi chiếm 36% chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết, phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo. Ruộng đất bãi chiếm hơn 10% được phân phối dọc theo sông, suối, chịu tác động của chế độ thủy văn. Loại đất có giá trị sử dụng trong sản xuất nông nghiệp là feralit màu nâu vàng phát triển trên đá phù sa cổ, tập trung chủ yếu ở các xã Tân Long, Hóa Trung… tạo điều kiện phát triển cây công nghiệp dài ngày (chè) và cây công nghiệp hàng ngày, cây ăn quả, đồng thời có khả năng cải tạo làm đồng cỏ chăn nuôi. Bên cạnh đó là đất phù sa bồi 12 c đắp bởi các con sông: sông Cầu, sông Công… phân bố trên một diện rộng các xã trên địa bàn đã tạo nên điều kiện thích hợp cho việc trồng các loại rau màu, cây lương thực… Đồng Hỷ nằm trong vành đai sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương cho nên tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với một trữ lượng tương đối lớn.
Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi “ sắt ở huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ và Phú Lương…” [22]. Loại có trữ lượng lớn nhất là cụm mỏ sắt Trại Cau, khoảng 20 triệu tấn và mỏ Linh Sơn 1-3 triệu tấn. Theo tài liệu Pháp để lại có ghi Mỏ sắt Trại Cau là mỏ lộ thiên, quặng thuộc loại tốt. Tư bản Pháp đã thăm dò từ năm 1927, 1928; đến 1939 chúng bắt đầu tuyển mộ công nhân từ các tỉnh miền xuôi.
Năm 1940, 1941 chúng bắt đầu khai thác để xuất cảng cho Nhật và Ý. Ngoài ra còn có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit. Giao thông của huyện tương đối phát triển với tổng chiều dài 729,8 km trong đó với tuyến đường quan trọng 1B từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn qua địa bàn huyện dài 15,5 km, đường liên tỉnh dài 27 km, đường liên huyện dài 57,5 km, đường liên xã 171 km, đường liên xóm 404 km. Với Mật độ giao thông toàn huyện bình quân đạt 13,4 km/km2 đã tạo thêm sự tăng cường thuận lợi cho giao lưu giữa các vùng trong khu vực cũng như ngoài khu vực.
Đặc điểm kinh tế, xã hội Với những đặc điểm của vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên nêu trên bên cạnh những khó khăn, hạn chế thì Đồng Hỷ cũng có những điều kiện thuận lợi riêng để phát triển cho kinh tế nâng cao đời sống cho người dân. Trong những năm gần đây, huyện Đồng Hỷ tiếp tục xác định tập trung thực hiện khâu đột phá về xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông nông thôn, coi đây là một trong những yếu tố quan trọng để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo hoàn thành tất cả các chỉ chỉ tiêu chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ mới 2015 - 2020 đã đề ra. Bên cạnh 13 c đó, Đồng Hỷ cũng tăng cường đầu tư cho xây dựng nông thôn mới, bằng nhiều giải pháp từ ưu tiên nguồn lực, huy động sức dân, tập trung chuyển đổi sản xuất, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống của người dân. Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn về nguồn vốn đầu tư, tuy nhiên cùng với sự hỗ trợ của nhà nước và lồng ghép các chương trình dự án, huyện Đồng Hỷ đã ưu tiên mọi nguồn lực ngân sách tại chỗ tiến hành khởi công và xây dựng hàng loạt các công trình giao thông quan trọng điển hình như tuyến đường: Linh Nham - Khe Mo - Đèo Nhâu, tuyến đường Hòa Khê 1 - La Đàn xã Văn Hán, Đường ĐT 272 Văn Lăng đi Phú Đô và tuyến đường Cầu treo Văn Khánh đi Bản Tèn xã Văn Lăng.
Trong đó, tiêu biểu phải kể đến con đường bê tông dài 4 km với tổng mức đầu tư trên 35 tỷ đồng nối Bản Tèn - bản người Mông đặc biệt khó khăn của huyện Đồng Hỷ với trung tâm xã Văn Lăng sẽ được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong một thời gian ngắn nữa. Con đường này không chỉ có ý nghĩa sống còn với sự phát triển của gần 100 hộ đồng bào Mông Bản Tèn mà nó còn mở ra nhiều điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong giai đoạn tới. Bên cạnh việc đầu tư, xây dựng, làm mới các tuyến đường cũng phải kể đến sự tích cực vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Tiêu biểu của phong trào này có thể kể đến xã Huống Thượng - đơn vị đầu tiên của huyện Đồng Hỷ cán đích xây dựng nông thôn mới.