phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chƣơng. Cụ thể: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về truyền thông về ô nhiễm môi trƣờng do sản xuất nông nghiệp trên báo chí. - Chƣơng 2: Khảo sát vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do sản xuất nông nghiệp trên 3 đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đài truyền thanh huyện trong truyền thông về vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Long.
15 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN BÁO CHÍ 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Truyền thông Truyền thông theo tiếng Anh là “Communication”, nghĩa là sự truyền đạt thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc. Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “Communis” với nghĩa là “làm cho phổ biến, công cộng”. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đƣờng, phƣơng tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội.
Nhờ truyền thông, giao tiếp con ngƣời tự nhiên trở thành con ngƣời xã hội. Hiện nay, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, các học giả đã đƣa rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông. Tác giả Dƣơng Xuân Sơn cho rằng: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [29, tr. Ở định nghĩa này, tác giả lƣu ý đến hai khía cạnh: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời, mà là quá trình mang tính liên tục.
Đây là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể và không chỉ có một bên cho và một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận. Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông. Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Còn theo tác giả Tạ Ngọc Tấn: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm ngƣời trong xã hội nhằm đạt đƣợc sự hiểu biết lẫn 16 nhau” [33, tr.
Quá trình truyền thông là quá trình hai chiều, ngƣời khởi xƣớng (nguồn) và ngƣời tiếp nhận đều phải tham gia vào trong hoạt động truyền thông. Ngƣời làm truyền thông không thể xem cái mình biết là cái cuối cùng, mà còn phải chú ý tới phản ứng và sự trả lời của ngƣời tiếp nhận. Trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tập thể tác giả biên soạn cho rằng: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [32, tr 13]. Ở định nghĩa này có hai khía cạnh cần lƣu ý: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình, có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian ngắn, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian.
Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc sau khi chuyển tải nội dung cần thiết, mà còn tiếp diễn sau đó. Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông. Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Sách “Cơ sở lý luận báo chí”, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2018, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều ngƣời với nhau để gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hay của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững [10, tr 20].
17 Nhƣ vậy, trong luận văn này, khái niệm “truyền thông” để chỉ việc chia sẻ những nội dung về ô nhiễm môi trƣờng do sản xuất nông nghiệp của các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long với ngƣời dân ở địa phƣơng ấy. Phát thanh/ Truyền thanh - Phát thanh: GS. Tạ Ngọc Tấn đã đƣa ra khái niệm: “Phát thanh (radio) là loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyển tải qua âm thanh. Âm thanh trong phát thanh bao gồm lời nói, âm nhạc, các loại tiếng động làm nền hoặc minh họa cho lời nói như tiếng mưa, gió, nước chảy, sóng vỗ, chim hót, tiếng vỗ tay, tiếng ồn đường phố.
Thuật ngữ phát thanh (radio) thực ra bao gồm cả hai loại hình nhỏ trong đó là phát thanh qua làn sóng điện từ và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn” [33; tr. Phạm Thành Hƣng định nghĩa phát thanh nhƣ sau: “Phát thanh là một phương tiện truyền thông đại chúng dựa trên nguyên tắc kỹ thuật truyền âm thanh để chuyển tải các chương trình tin tức, tri thức, nghệ thuật tới đông đảo công chúng thính giả cũng như cho các nhóm thính giả đặc thù” [19; tr. Nguyễn Văn Dững thì phát thanh “là kênh truyền thông đại chúng sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận. Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh truyền thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp [8, tr.
Báo phát thanh đƣợc hiểu nhƣ “một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú và sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai) của công chúng” [12, tr. 18 Báo phát thanh cũng có một tên gọi khác là báo nói. Theo Điều 3, khoản 4, Luật Báo chí năm 2016 định nghĩa: “Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau”. Nhƣ vậy, có thể hiểu phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin đƣợc chuyển tải qua âm thanh.
Âm thanh trong phát thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, tiếng động, âm nhạc. - Truyền thanh: Truyền thanh là truyền âm thanh đi xa bằng radio hoặc bằng đƣờng dây đài truyền thanh, loa truyền thanh [28, tr. Ở nƣớc ta tồn tại 2 hình thức truyền thanh, gồm truyền thanh vô tuyến - không dây và truyền thanh hữu tuyến - có dây. Hệ thống truyền thanh có dây thƣờng sử dụng tăng âm (Ampli) và hệ thống dây dẫn đến các cụm loa phóng thanh công cộng.
Hệ thống truyền thanh không dây là việc sử dụng máy phát sóng phát tín hiệu đến các cụm thu và loa để truyền tải âm thanh. Đây là hệ thống truyền thanh ứng dụng các công nghệ điện tử, khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm của công nghệ hữu tuyến trƣớc đây: vận hành, quản lý, bảo trì đơn giản; chất lƣợng tín hiệu thu sóng tốt; có thể lắp đặt mọi nơi (có điện lƣới) trong vùng phủ sóng máy phát FM; bộ thu có thể tắt, mở theo tín hiệu điều khiển của máy phát FM và có thể lắp đặt bộ thu trong nhà dân,… Tuy nhiên, hiện nay, phát thanh – truyền thanh không chỉ sử dụng hình thức truyền dẫn truyền thống là sóng điện từ và dây dẫn, máy phát sóng, loa truyền thanh nữa. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, hình thức phát thanh trên Internet ngày càng trở nên phổ biến. Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện song song việc phát sóng chƣơng trình phát thanh trên trang web chính thức của mình.
Trang web của nhiều Đài Phát thanh – Truyền hình cấp tỉnh cho phép thính giả nghe trực tiếp hoặc nghe lại chƣơng trình phát thanh của đài. Với các đài cấp huyện, một số đài cũng đã đăng tải chƣơng 19 trình do mình sản xuất lên trang web riêng, nhƣ: Đài Phát thanh huyện Từ Sơn (Bắc Ninh), Đài Từ Liêm (Hà Nội), Đài Kiến An, Đài Tiên Lãng (Hải Phòng)…. Ô nhiễm môi trường - Môi trường: Kalesnik là ngƣời đƣa ra quan niệm đầu tiên về môi trƣờng (1959, 1970): Môi trƣờng (môi trƣờng địa lý) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con ngƣời, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài ngƣời có quan hệ tƣơng hỗ trực tiếp với nó. Nghĩa là môi trƣờng có quan hệ một cách gần gũi với đời sống và hoạt động sản xuất của con ngƣời.
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trƣờng đƣợc Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014: Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật. Có nhiều cách phân loại môi trƣờng, dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau. Cách phân loại phổ biến hơn là phân chia môi trƣờng theo thành phần. Môi trƣờng tự nhiên gồm các nhân tố thiên nhiên nhƣ vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con ngƣời nhƣng cũng ít nhiều chịu tác động của con ngƣời.
Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất và nƣớc,…Môi trƣờng tự nhiên cho ta không khí thở, đất để xây nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con ngƣời các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ. Môi trƣờng xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau. Môi trƣờng xã hội định hƣớng hoạt động của con ngƣời theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con ngƣời khác với các sinh vật khác.
20 Sự phân chia môi trƣờng thành các loại chỉ để phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích các hiện tƣợng phức tạp trong môi trƣờng.