Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI 1. Những vấn đề lý luận về tội giết người 1. Khái niệm tội giết người Tội giết người là một trong những tội phạm truyền thống, được thể hiện trong rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm tội giết người trong các công trình khoa học khác nhau.
Một số khái niệm tiêu biểu như: Theo GS. Võ Khánh Vinh: Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước đoạt quyền sống của người khác [51; tr. Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra quan điểm: Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác [26; tr. Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp, trong cuốn Bình luận khoa học luật hình sự cho rằng: Giết người được hiểu là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật.
Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hưng cho rằng: Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi giết người là một hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm trực tiếp đến tính mạng người khác bị xã hội kịch liệt lên án. Trong đó “tước đoạt” là “tước và chiếm lấy sự sống của người khác” và “tước đoạt” đã bao gồm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định “tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng” [6, tr.
Nhận xét: Các công trình khoa học nêu trên đều thống nhất với nhau ở nội hàm tội giết người, đó là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác, xâm phạm đến quyền sống của họ. 8 Trong pháp luật hình sự Việt Nam vẫn có những trường hợp tước đoạt mạng sống người khác được pháp luật cho phép như: Thi hành hình phạt tử hình đối với người bị kết án tử hình (sau khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật và không được giảm xuống chung thân), hoặc trường hợp phòng vệ chính đáng, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ… Mặc dù BLHS năm 2015 nhà làm luật chưa đưa ra khái niệm pháp lý về tội giết người nhưng khái niệm tội phạm đã được ghi nhân tại Điều 8: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Đây là khái niệm pháp lý tương đối hoàn chỉnh về tội phạm, là cơ sở quan trọng để xây dựng khái niệm các tội phạm cụ thể. Trong BLHS năm 2015 thì tội giết người được quy định tại Điều 123, Chương II, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng của người khác (là hành vi có lỗi xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác).
Theo tác giả, để xây dựng khái niệm về tội giết người hoàn chỉnh bên cạnh chỉ ra được bản chất của tội giết người là tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác, cần phải nêu được yếu tố chủ thể, khách thể của tội phạm. Tiếp thu kết quả nghiên cứu của một số công trình nêu trên và quy định của pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về tội giết người như 9 sau: Tội giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định, thực hiện một cách cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, nhằm xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu pháp lý tội giết người * Thứ nhất: Khách thể của tội giết người Tội giết người được quy định tại Điều 123, Chương II: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng của người khác. Khách thể loại của tội là quan hệ nhân thân, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phạm, danh dự của con người.
Còn khách thể trực tiếp của tội này là quyền được sống, được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Tuy nhiên, để xâm phạm đến khách thể tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng, chủ thể phải tác động thông qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, đây là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [28; tr. Theo đó, đối tượng tác động của tội giết người là con người đang sống, được xác định từ thời điểm một người sinh ra, độc lập với cơ thể mẹ và chấm dứt khi có cái chết về mặt sinh học. Khoa học pháp y chia quá trình chết theo 03 giai đoạn là giai đoạn hấp hối, giai đoạn chết lâm sang và giai đoạn chết sinh học.
Trong đó chết sinh học là giai đoạn chết thực thể của mô – tế bào. Quá trình trao đổi chất của cơ thể ngừng lại. Bắt đầu xuất hiện sự thoái hóa, hoại tử không còn khả năng hồi phục [30; tr. Tuy nhiên, nếu thai nhi sinh ra và còn sống trong 07 ngày tuổi trở lại, mà người mẹ giết con mình thì không cấu thành tội giết người mà cấu thành tội giết con mới đẻ theo Điều 124 BLHS.
10 * Thứ hai: Mặt khách quan của tội giết người: Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan [27, tr. - Về hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác, đây là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ, có thể được thực hiện bằng hình thức: + Hành động: người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép (có hoặc không sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm) như hành động bắn, đâm, chém, bóp cổ, đẩy xuống sông, dùng thuốc độc.) nhằm tước bỏ tính mạng người khác. + Hành vi khác quan của tội giết người cũng có thể là không hành động, khi chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải làm những việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác nhưng họ đã không hành động, không thực hiện những việc làm đó, gây ra cái chết cho con người. Ví dụ: Người mẹ không cho con 02 tuần tuổi của mình ăn, uống, bỏ mặc đến chết.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Tội giết người là tội có cấu thành vật chất. Tội phạm được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người. - Dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người: Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phải chịu TNHS về hậu quả chết người xảy ra nếu hành vi họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó. * Thứ ba: Chủ thể của tội giết người: Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định thế nào là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định thông qua tình trạng không có năng lực 11 trách nhiệm hình sự tại Điều 21 BLHS và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS. Căn cứ theo các quy định trên thì chủ thể của tội giết người là cá nhân, từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. ` * Thứ tư: Mặt chủ quan của tội giết người Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Mặt chủ quan của tội phạm chỉ bao gồm lỗi, mục đích và động cơ, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể: Lỗi của người phạm tội được xác định trong CTTP tội giết người là lỗi cố ý (có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Đối với trường hợp hậu quả chết người chưa xảy ra, thì khoa học luật sự xác định một số trường hợp như sau: Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệ hình sự về tội giết người chưa đạt. + Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệ hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu thương tích xảy ra thỏa mãn đòi hỏi của CTTP tội này) mà không phải chịu TNHS về tội giết người chưa đạt [29]. Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, việc xác định lỗi của chủ thể là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp không đơn giản mà trong nhiều trường hợp hết sức phức tạp.
Trong trường hợp này cần dựa vào các biểu hiện của mặt khách quan như sự mãnh liệt của hành vi tấn công, hung khí, công cụ phạm tội, vị trí tấn công. - Dấu hiệu mục đích, động cơ phạm tội: Mục đích, động cơ phạm tội không được mô tả trong CTTP (cơ bản) của tội giết người. Tuy nhiên, trong thực tế hành vi cố ý tước đó mạng người khác vì mục đích nhất định hoặc do động cơ nhất định có thể cấu thành tội phạm khác mà không cấu thành tội giết người. Ví dụ: Hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật của người khác vì mục 12 đích chống chính quyền nhân dân cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân Điều 113 BLHS… 1.