Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TRONG VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC GIA ĐÌNH 1. Lý luận chính sách pháp luật về công tác gia đình 1. Khái niệm và mối quan hệ chính sách pháp luật Chính sách là những cách thức tác động của Nhà nước vào các lĩnh vực của đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng. Chính sách điều chỉnh những quan hệ ít mang tính ổn định, mềm dẻo, linh động.
Chính sách có tác động nhanh và kịp thời, mạnh mẽ, toàn diện đến cả nhận thức, thái độ và hành vi của các chủ thể bị tác động. Đặc biệt, chính sách điều chỉnh động cơ, tạo động lực cho hành vi, hoạt động của các cá nhân và từng nhóm đối tượng cụ thể. Chính sách có vai trò định hướng cho các hoạt động kinh tế – xã hội; khuyến khích các hoạt động kinh tế – xã hội theo định hướng; phát huy những mặt tốt của nền kinh tế thị trường và hạn chế những tiêu cực của nó; tạo lập sự cân đối trong phát triển; kiểm soát và phân phối nguồn lực cho quá trình phát triển; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế – xã hội, giúp cho các thực thể vận động phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính hệ thống chặt chẽ trong quá trình vận động của thực thể. Trong những năm qua, công tác xây dựng, phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật.
Với sự nỗ lực và cố gắng của các cấp, các ngành, công tác xây dựng pháp luật đã có những chuyển biến tích cực, góp phần xây dựng ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Đảng và Nhà nước ta cũng xây dựng các chương trình trọng điểm quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngày 9/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 32-TW/CT về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân. Trên cơ sở các Nghị quyết của Đảng, các chính sách pháp luật đã từng bước được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, hệ thống 9 pháp luật đã được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính sách bao giờ cũng đi trước pháp luật, mang tính định hướng và là nền tảng để xây dựng pháp luật: chính sách phản ánh một cách trung thực, khách quan điều kiện kinh tế – xã hội tại thời điểm cụ thể và dự báo xu thế, khả năng phát triển trong tương lai. Nếu chính sách không làm tốt vai trò này thì việc thể chế hoá các chính sách thành các quy phạm pháp luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật sẽ không có tính khả thi, hoặc kìm hãm sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội. Do đó, các nhà hoạch định chính sách phải là người có khả năng đúc kết thực tiễn và dự báo tương lai. Chính sách có tính ổn định tương đối để pháp luật có điều kiện đi vào thực tế cuộc sống vì pháp luật luôn hướng tới mục tiêu chung, thống nhất nên trong mỗi giai đoạn nhất định, pháp luật có tính đồng bộ và ổn định.
Điều này có nghĩa, khi một chính sách có quá nhiều thay đổi hoặc không có những lộ trình cụ thể sẽ gây khó khăn, phức tạp cho việc xây dựng và thực thi pháp luật. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách phải tính toán thời gian, điều kiện áp dụng để đưa chính sách vào cuộc sống. Đồng thời, họ phải là những người có khả năng chia việc thực thi chính sách thành các giai đoạn khác nhau với các mục tiêu và lộ trình cụ thể, tránh những bất lợi cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Chính sách là một trong các nguồn tạo ra những thể chế pháp luật mới.
Hay nói cách khác, do chính sách là công cụ thể hiện thái độ chính trị của Đảng lãnh đạo để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra theo định hướng, nên pháp luật được ban hành cùng các quy định cụ thể cho mỗi loại quan hệ. Thông thường, sau khi Nhà nước ban hành chính sách mới trên cơ sở định hướng chính sách của Đảng, chính sách này được thực thi thông qua việc cụ thể hoá thành các quy phạm pháp luật. Như vậy, một chính sách mới được ban hành đồng thời tạo nên một lĩnh vực điều chỉnh mới của hệ thống pháp luật. Pháp luật là căn cứ xây dựng chính sách, là công cụ để cụ thể hoá và thực thi chính sách.
Chính sách có tính linh hoạt và thích nghi với thực tế xã hội cao hơn pháp luật nhưng không thể tồn tại và phát huy tác dụng nếu thiếu pháp luật bởi hệ 10 thống pháp luật tạo nên khuôn khổ pháp lý quy định và điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội. Chính sách do Nhà nước ban hành phải căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành và về nguyên tắc không được trái với các quy định của pháp luật. Do đó, không thể xây dựng chính sách có hiệu quả và khả thi khi không nắm được tất cả những quy định pháp luật đang điều chỉnh lĩnh vực liên quan đến chính sách đó. Pháp luật được ban hành và đi vào cuộc sống sẽ giúp các quan hệ xã hội diễn ra có trật tự theo định hướng thống nhất với các chính sách hiện hành.
Quá trình thực thi pháp luật giúp các đối tượng có ý thức chấp hành các quy định chung, trên cơ sở đó nêu cao tinh thần chấp hành chính sách một cách tự giác. Từ những phân tích trên cho thấy, chính sách pháp luật có thể hiểu là chính sách về pháp luật. Theo nghĩa này, để xây dựng pháp luật, trước hết phải có chính sách (bao gồm quan điểm, chủ trương, định hướng và thước đo hiệu quả của pháp luật hiện hành và trong tương lai) theo nhận thức của từng chủ thể thích ứng với từng giai đoạn phát triển cụ thể. Ở một nghĩa khác, chính sách pháp luật không chỉ là linh hồn, là căn cứ, là cơ sở để xây dựng pháp luật, xác định nội dung của pháp luật, mà chính sách pháp luật có thể là pháp luật (Hiến pháp - đạo luật cơ bản là cơ sở để xây dựng các đạo luật); chính sách pháp luật có thể là cơ sở để xây dựng các chính sách khác.
Chính sách pháp luật được triển khai bởi hoạt động của chủ thể có thẩm quyền trong việc thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng thông qua hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Chính sách pháp luật (dù hiểu dưới góc độ nào) cũng là để thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách pháp luật”. Để thể chế hóa đường lối của Đảng, chính sách pháp luật bị chế ước bởi đường lối của Đảng, nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh hợp lý đường lối của Đảng trong từng giai đoạn của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Trong quá trình thể chế hóa đó, chính sách pháp luật phản ánh và bảo vệ đường lối của Đảng. Một đường lối không thể coi là có hiệu quả, đủ sức đi vào đời sống thực tiễn nếu thiếu chính sách pháp luật. 11 Bên cạnh đó, chính sách và pháp luật gắn bó biện chứng chặt chẽ với nhau, có mối quan hệ nhân quả và chế ước lẫn nhau và khẳng định vai trò của chính sách đối với việc xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật. Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về gia đình Quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về gia đình xét đến cùng chính là xây dựng gia đình hạnh phúc.
Hạnh phúc của từng cá nhân trong gia đình đến cộng đồng, xã hội. Đặc biệt, từ khi đất nước Đổi mới đến nay, quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước về gia đình và xây dựng gia đình hạnh phúc càng đậm nét, phù hợp với nhu cầu thực tiễn đất nước. Trước hết, cần phải khẳng định rằng: Mục tiêu cao nhất của Đảng và Nhà nước ta là mang lại hạnh phúc cho mọi người dân; tất cả các đường lối, chính sách phải hướng đến mục tiêu này. Gia đình là “nền tảng, là tế bào của xã hội”, “gia đình phải là điểm xuất phát và là nơi trở về của mọi chính sách xã hội”.
Tất cả các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều có tác động trực tiếp, liên quan quan mật thiết đến xây dựng gia đình hạnh phúc. Tùy vào điều kiện thực tiễn cụ thể, quan điểm và chính sách này có những thay đổi nhất định nhưng vẫn giữ nguyên những giá trị cốt lõi. Theo kết quả điều tra của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện năm 2018, khi hỏi về các yếu tố cần có để gia đình hạnh phúc, phần lớn các ý kiến của người dân đều cho rằng cần phải có các yếu tố như kinh tế gia đình không khó khăn quá so với mặt bằng chung; có nhà ở kiên cố, có trang thiết bị cơ bản; gia đình sống ở nơi có môi trường sạch đẹp, hàng xóm thân thiện, giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn, thuận tiện khi đi học, đi khám chữa bệnh; đặc biệt là các thành viên gia đình phải khỏe mạnh, yêu thương hòa thuận, con cái ngoan ngoãn, thành đạt trong công việc… Như vậy một gia đình muốn có được hạnh phúc, cần phải đảm bảo những điều kiện cơ bản về đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe, y tế, giáo dục, vui chơi, giải trí, các thành viên gia đình mạnh khỏe, thương yêu, chia sẻ với nhau, ông bà cha mẹ gương mẫu, con cháu thảo hiền, lễ phép.