phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, khoá luận tốt nghiệp gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI CHƢƠNG 2. THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM VỚI CHỦ ĐỀ “NỐT NHẠC TRÁI CÂY” CHƢƠNG 3. DỰ KIẾN THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 3 c CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lí luận về hoạt động trải nghiệm 1. Khái niệm hoạt động trải nghiệm Theo bản thảo chính thức ban hành theo Thông tƣ số 32/2018/TT – BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trƣởng Bộ GD và ĐT, chƣơng trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học lựa chọn theo định hƣớng nghề nghiệp (gọi tắt là các môn học lựa chọn) và các môn học tự chọn. Trong đó hoạt động giáo dục bắt buộc sẽ gồm Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học và Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông.
[1] Bản thảo chính thức về chƣơng trình giáo dục phổ thông, đã tách biệt Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp. Nên nếu nhắc tới Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ta cũng có thể hiểu là Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp (HĐTN) và ngƣợc lại. Theo quan điểm hiện hành HĐTN là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hƣớng, thiết kế và hƣớng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ đƣợc giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trƣờng, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trƣờng và nghề nghiệp tƣơng lai. [1] Song song với các môn học, HĐTN là hoạt động giáo dục học sinh bắt buộc phải tham gia, tƣơng ứng với các số tiết quy định riêng cho mỗi khối lớp.
Trong HĐTN, ngƣời giáo dục có vai trò định hƣớng, thiết kế và hƣớng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế bằng cách đặt học sinh vào một tình huống có vấn đề với bối cảnh gắn liền với thực tiễn cuộc sống, có thể diễn ra trong hoặc ngoài trƣờng. Về phía học sinh, để giải quyết đƣợc 4 c tình huống, học sinh phải vận dụng tất cả những kiến thức, kĩ năng không chỉ trong trƣờng lớp mà cả trong thực tiễn cuộc sống. Học sinh đƣợc tự mình chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức các công việc để giải quyết nhiệm vụ trong HĐTN. Đây là một hình thức cho học sinh học tập qua chính sự trải nghiệm của bản thân mình, tạo điều kiện cho các em cơ hội khám phá thực tế cuộc sống ngay trong hoạt động học tập của mình.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, học sinh hình thành đƣợc những phẩm chất, năng lực nhất định. Theo Dewey (1938), Balleux (2000) thì học sinh học tập qua sự trải nghiệm sẽ gắn kết nhà trƣờng với cuộc sống. Khi môi trƣờng học tập không tách khỏi xã hội thực tế thì sẽ tạo cơ hội học tập suốt đời cho học sinh. Theo Lindeman (1926), học sinh học tập qua hoạt động trải nghiệm sẽ có cơ hội khám phá cuộc sống ngoài nhà trƣờng, giải quyết các tình huống thực tiễn bằng chính kinh nghiệm cá nhân của mình và hiểu đƣợc bản chất, hoạt động của những đối tƣợng xung quanh cuộc sống của mình.
Theo Piaget, Lewin, Kolb trong quá trình trải nghiệm, học sinh luôn phải huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm cho phù hợp với bối cảnh, do đó học sinh luôn phải sáng tạo để thích nghi với các tình huống và sự biến đổi của môi trƣờng học tập. Cũng theo Dewey, Piaget et Kolb, quá trình học tập dựa trên sự trải nghiệm, học sinh luôn huy động các kiến thức, kĩ năng của mình cho phù hợp với cảm xúc, nhận thức của ngƣời khác, của bối cảnh xã hội mà học sinh sống. Quá trình điều phối sẽ giúp học sinh thích nghi với môi trƣờng, với mọi ngƣời và bối cảnh xã hội và cũng giúp học sinh tự rèn luyện, phát triển năng lực sáng tạo của bản thân. [5] Một cách khái quát nhất có thể hiểu: HĐTN là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh đƣợc trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trƣờng hoặc trong xã hội dƣới sự định hƣớng, thiết kế, hƣớng dẫn thực hiện và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân.
Vị trí, vai trò 5 c Chƣơng trình giáo dục phổ thông thực hiện mục tiêu giáo dục hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Mỗi nội dung giáo dục đều đƣợc thực hiện ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục. Căn cứ mục tiêu giáo dục và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực ở từng giai đoạn giáo dục và từng cấp học, chƣơng trình mỗi môn học và hoạt động giáo dục xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đó. HĐTN với vị trí là một bộ phận của chƣơng trình giáo dục, có những vai trò riêng để giúp hoàn thành mục tiêu giáo dục [1]: HĐTN góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và các năng lực đặc thù cho học sinh; nội dung hoạt động đƣợc xây dựng dựa trên các mối quan hệ của cá nhân học sinh với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và với nghề nghiệp.
Nội dung HĐTN đƣợc phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hƣớng nghề nghiệp. Giai đoạn giáo dục cơ bản: Ở cấp tiểu học, nội dung Hoạt động trải nghiệm tập trung vào các hoạt động khám phá bản thân, hoạt động rèn luyện bản thân, hoạt động phát triển quan hệ với bạn bè, thầy cô và ngƣời thân trong gia đình. Các hoạt động xã hội và tìm hiểu một số nghề nghiệp gần gũi với học sinh cũng đƣợc tổ chức thực hiện với nội dung, hình thức phù hợp với lứa tuổi. Ở cấp trung học cơ sở, nội dung Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp tập trung hơn vào các hoạt động xã hội, hoạt động hƣớng đến tự nhiên và hoạt động hƣớng nghiệp; đồng thời hoạt động hƣớng vào bản thân vẫn đƣợc tiếp tục triển khai để phát triển các phẩm chất và năng lực của học sinh.
Giai đoạn giáo dục định hƣớng nghề nghiệp: Ngoài các hoạt động hƣớng đến cá nhân, xã hội, tự nhiên, nội dung Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp ở cấp trung học phổ thông tập trung hơn vào hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp nhằm phát triển năng lực định hƣớng nghề nghiệp. Thông qua các hoạt động hƣớng nghiệp, học sinh đƣợc 6 c đánh giá và tự đánh giá về năng lực, sở trƣờng, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp, làm cơ sở để tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp và rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề nghiệp tƣơng lai. Hình thức tổ chức HĐTN đƣợc tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trƣờng học; theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trƣờng. HĐTN đƣợc tổ chức rất linh hoạt dƣới nhiều hình thức khác nhau, dễ dàng phù hợp với nhiều đối tƣợng học sinh, với những mục đích khác nhau, tuy nhiên có bốn loại hình hoạt động chủ yếu là Sinh hoạt dƣới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ; với sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lƣợng giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng nhƣ: giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên môn học, cán bộ tƣ vấn tâm lí học đƣờng, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, cán bộ phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, cán bộ quản lí nhà trƣờng, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phƣơng, các tổ chức, cá nhân trong xã hội.[1] Mỗi một hình thức tổ chức, sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong số đó phải kể đến mục tiêu của ngƣời giáo dục khi tổ chức HĐTN.
Với mục tiêu khóa luận của mình, chúng tôi sẽ nghiên cứu và trình bày sâu hơn về hình thức hoạt động câu lạc bộ. Câu lạc bộ (CLB) là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dƣới sự định hƣớng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trƣờng giao lƣu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những ngƣời lớn khác. Hoạt động của CLB tạo cơ hội để học sinh đƣợc chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của học sinh nhƣ: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tƣởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,… [8] CLB là nơi để học sinh đƣợc thực hành các quyền trẻ em của mình nhƣ quyền đƣợc học tập, quyền đƣợc vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động 7 c văn hóa, nghệ thuật; quyền đƣợc tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,… Thông qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em. Quy trình thiết kế và tổ chức HĐTN Việc thiết kế các HĐTN có thể đƣợc tiến hành theo các bƣớc sau [11]: Bƣớc 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm.
Công việc này bao gồm một số việc: Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chƣơng trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tƣợng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh. Bƣớc 2: Đặt tên cho hoạt động.
Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn. - Phản ánh đƣợc chủ đề và nội dung của hoạt động.