Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 Chương 3: Các giải pháp kiểm soát lạm phát tại Việt Nam trong thời gian tới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -1- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1.1 Tổng quát về lạm phát: 1.1 Khái niệm lạm phát: Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu.
Như vậy, ta có thể xem sự tăng lên của giá cả là dấu hiệu cơ bản để nhận biết lạm phát. Để xem xét lạm phát người ta thường tập trung nghiên cứu biểu hiện của lạm phát, cụ thể là nghiên cứu lạm phát thông qua việc nghiên cứu sự gia tăng của mức giá chung với tốc độ cao và kéo dài. Để đo lường mức giá chung trong nền kinh tế, người ta thường dùng các phép đo phổ biến như: chỉ số giá bán lẻ (chỉ số giá tiêu dùng) – CPI – Consumer Price Index, chỉ số giá bán buôn – WPI – Wholesale Price Index, chỉ số giá sản xuất – PPI – Producer Price Index… Về bản chất, lạm phát là do khối lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá khối lượng hàng hóa và dịch vụ cung ứng, dẫn đến sự tăng giá đồng loạt, liên tục và ở mức đáng kể. Do đó, người ta thường lấy chỉ số giá tăng để nói lên mức độ lạm phát.
Lạm phát không phải lúc nào cũng xấu, khi lạm phát ở mức kiểm soát được sẽ kích thích đầu tư, xuất khẩu và cải thiện công ăn việc làm, song khi lạm phát tăng quá mức (đến 2 con số trở lên) và ngoài tầm kiểm soát sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế và cuộc sống của người dân. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -2- Thông thường để đo lường lạm phát người ta hay sử dụng Chỉ số giá cả. Chỉ số giá cả hay còn được gọi là chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index: CPI) là chỉ số tính theo phần trăm để thống kê, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung của một số lượng cố định các loại hàng hóa dịch vụ (được gọi là “rổ hàng hóa”) đã được chọn đại diện cho tiêu dùng, phục vụ đời sống bình thường của người dân qua thời gian. Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá, và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát.2 Phân loại lạm phát: Lạm phát xảy ra ở mỗi giai đoạn với một mức độ khác nhau, mỗi mức độ có một sức ảnh hưởng riêng đến sự phát triển kinh tế.
Có nhiều cách phân loại lạm phát khác nhau, tuy nhiên cách phổ biến là phân loại lạm phát trên cơ sở định lượng. Người ta dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm phát được tính trong năm để phân loại, theo đó lạm phát được chia thành 4 loại: thiểu phát, lạm phát vừa phải, lạm phát cao (lạm phát phi mã), siêu lạm phát.1 Thiểu phát: Thiểu phát trong kinh tế học là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp. Hiện tượng này xảy ra khi tỷ lệ lạm phát thực tế nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến làm sản lượng thực nhỏ hơn sản lượng dự kiến. Không có tiêu chí chính xác là tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm một năm trở xuống thì được coi là thiểu phát.
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, quan điểm và cách nhìn nhận của từng quốc gia mà xem tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm là thiểu phát. Ở Việt Nam thời kỳ 2002- 2003 tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4 phần trăm một năm, nhiều nhà kinh tế học đã xem đây là thiểu phát.2 Lạm phát vừa phải: Là mức lạm phát ở mức một con số nguyên (tỷ lệ tăng giá cả hàng hóa trong khoảng 10 phần trăm một năm trở lại). Khi ở mức lạm phát này đồng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -3- tiền mất giá không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh. Loại lạm phát này như một chất xúc tác góp phần thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển.
Ở mức lạm phát vừa phải, giá cả dao động xung quanh mức tăng tiền lương, trong điều kiện như thế giá trị tiền tệ không biến đổi nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Khi giá cả tăng ra khỏi mức độ hợp lý, người ta nói lạm phát đang bước vào giai đoạn tăng cao.3 Lạm phát cao (lạm phát phi mã): Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Nguyên nhân là do biến động về phía tổng cung hay tổng cầu. Nếu lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
Trong bối cảnh lạm phát phi mã, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh nên mọi người có xu hướng chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày, phần tiền còn lại sẽ được đầu tư vào các kênh như: tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải.4 Siêu lạm phát: Siêu lạm phát là lạm phát mất kiểm soát, một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị. Tỷ lệ lạm phát lúc này là rất lớn khoảng 1000%/năm trở lên. Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát. Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định.
Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ. Theo Tiêu chuẩn kế toán Quốc tế, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: người dân không muốn giữ tài sản ở dạng tiền; giá cả hàng hóa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá.3 Vai trò của lạm phát đối với nền kinh tế: Lạm phát có nhiều loại cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng của lạm phát đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế lạm phát cao là một nỗi lo của toàn xã hội và ta cũng thấy được tác động của nó đến nền kinh tế.1 Tác động đến lĩnh vực sản xuất: Ở vị trí các nhà sản xuất, khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng gây ra sự bất ổn trong quá trình sản xuất. Sự mất giá của đồng tiền làm cho vô hiệu hóa hoạt động hoạch định, dự toán kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất – kinh doanh ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi gây ra những biến động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn. Tuy nhiên, nếu lạm phát ở mức vừa phải phù hợp với đặc điểm kinh tế của một quốc gia sẽ thúc đẩy cho kinh tế tăng trưởng và phát triển. Giả sử một nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm phát hay thiểu phát (lạm phát thấp), lúc này cầu hàng hóa bị suy giảm một cách tương đối tức là tổng cầu trong nền kinh tế giảm một cách tương đối so với tổng cung.
Khi cung lớn hơn chắc chắn các doanh nghiệp sẽ có một lượng hàng hóa bị tồn kho không bán được, phản ứng của doanh nghiệp sẽ là thu hẹp quy mô sản xuất, sa thải bớt nhân công để tiết kiệm chi phí. Từ đó làm cho thất nghiệp tăng, cũng do đó mà người dân phải chi tiêu một cách tiết kiệm lại, nghĩa là nhu cầu về hàng hóa của người dân giảm xuống, làm cho tổng cầu giảm. Khi tổng cầu bé hơn tổng cung lại bắt đầu cho một vòng lẩn quẩn tiếp theo. Như vậy khái quát hóa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- lên thì trong toàn nền kinh tế lúc này sẽ bị tác động theo dây chuyền lan từ ngành này sang ngành khác dẫn đến cuộc khủng hoảng thừa trầm trọng hơn và suy thoái toàn nền kinh tế.
Vì vậy mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất, việc làm được tạo thêm, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm. Từ đó góp phần làm tăng trưởng kinh tế.2 Đối với lĩnh vực lƣu thông hàng hóa: Lạm phát tăng lên cao thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa. Lúc này những người giàu có, thừa tiền dùng tiền của mình để thu gom, tích trữ hàng hóa, tài sản, tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung – cầu hàng hóa trên thị trường, làm cho giá cà hàng hóa tăng lên nhiều hơn.
Ngoài ra, khi tỷ lệ lạm phát khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải những rủi ro cao. Do có nhiều người tham gia vào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn. Tiền vừa ở trong tay người bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.3 Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng: Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số tiền mà người gửi tiền gửi vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền bị giảm xuống.