phần mở đầu, ết luận và danh mục tài liệu tham hảo, luận văn gồm những nội dung chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận n 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1 1 Cơ sở lý luận của mô hình xây dựng nông thôn mới 1. Một số khái niệ cơ bản - Nông thôn: Hiện nay vẫn chƣa c hái niệm chuẩn xác về nông thôn và có nhiều quan điểm hác nhau. C quan điểm cho rằng nông thông đƣợc coi là khu vực địa lý nơi đ cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Một số quan điểm khác cho rằng nông thôn là nơi c mật độ dân số thấp hơn so với thành thị.
Vùng nông thôn là vùng c dân cƣ làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cƣ dân trong vùng là sản xuất nông nghiệp. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng, phát triển hàng h a để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn c trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trƣờng thấp hơn so với thành thị. Hay dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, ngh a là cơ sở hạ tầng của vùng nông thôn không phát triển bằng đô thị. Nhƣ vậy khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tƣơng đối, n thay đổi theo thời gian và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam chúng ta có thể hiểu: “ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [Trần Ngọc Ngoạn, 2008]. - Nông nghiệp là quá trình sản xuất ra lƣơng thực, thực phẩm cung cấp cho con ngƣời và tạo ra của cải cho xã hội. - Nông dân là những ngƣời lao động cƣ trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp, sống chủ yếu bằng ruộng vƣờn sau đ đến ngành nghề hác và tƣ liệu chính là đất đai.
- Nông thôn mới: Trƣớc tiên, nông thôn mới phải là nông thôn, chứ không phả là thị xã, thị trấn hay thành phố, nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Mô hình nông thôn mới là tổng thể, những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức n 5 nông thôn theo tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong nông thôn hiện nay. Nhìn chung mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn đƣợc phát triển toàn diện theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ và văn minh. Mô hình nông thôn mới đƣợc quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trƣờng; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn h a xã hội.
Tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên toàn lãnh thổ [Vũ Văn Phúc, 2012]. Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cƣ ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trƣờng và an ninh nông thôn đƣợc đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân đƣợc nâng cao. Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Sự cần thiết xây dựng mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế xã hội Nông sản là sản phẩm thiết yếu cho toàn xã hội và ở Việt Nam khu vực nông thôn chiếm đến 70% dân số. Thực hiện đƣờng lối mới của Đảng và Nhà nƣớc trong chính sách phát triển nông thôn, nông nghiệp đƣợc xem nhƣ mặt trận hàng đầu, chú trọng đến các chƣơng trình lƣơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, xây dựng đời sống văn h a ở hu dân cƣ, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… Các chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc đã và đang đƣa nền nông nghiệp tự túc sang nền công nghiệp hàng hóa. Nền nông nghiệp nƣớc ta còn nhiều những hạn chế cần đƣợc giải quyết để đáp ứng kịp xu thế toàn cầu. Một số yếu tố nhƣ: Nông thôn phát triển tự phát, thiếu quy hoạch.
Có khoảng 23% xã có quy hoạch nhƣng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn, chất lƣợng chƣa cao. Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn lạc hậu, hông đáp ứng đƣợc mục tiêu phát n 6 triển lâu dài. Thủy lợi chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
Tỷ lệ ênh mƣơng do các xã quản lý đƣợc kiên cố hóa mới đạt 25%. Giao thông chất lƣợng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chƣa phục vụ tốt sản xuất, lƣu thông hàng h a, phần lớn chƣa đạt tiêu chuẩn quy định. Hệ thống lƣới điện hạ thế chất lƣợng thấp, quản lý lƣới điện nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao, nông thôn phải chịu mức giá điện cao. Hệ thống các trƣờng mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất còn thấp (32%), hầu hết các nông thôn chƣa c hu thể thao theo quy định.
Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp, khoảng 77% số xã c điểm bƣu điện văn h a theo tiêu chuẩn, 22% số thôn c điểm truy cập internet. Cả nƣớc còn khoảng hơn 300 nghìn nhà ở tạm [http://nongthonmoi.vn/vn/tintuc/Lists/hdtw/View_Detail.aspx?ItemID=79] Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sông ngƣời dân còn thấp. Kinh tế hộ phổ biến ở quy mô nhỏ. Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã có hợp tác xã nhƣng chỉ hoạt động dƣới hình thức, chất lƣợng yếu và kém.
Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày càng lớn. Về văn h a - môi trƣờng - y tế - giáo dục: Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Mức hƣởng thụ về văn hóa của ngƣời dân còn thấp, phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, bản sắc văn h a dân tộc dần bị mai một, tệ nạn xã hội c xu hƣớng gia tăng. Hệ thống an sinh xã hội chƣa phát triển.
Môi trƣờng sống bị ô nhi m. Số trạm y tế đạt tiêu chuẩn thấp, y tế dự phòng của xã còn hạn chế. Hệ thống chính trị tại cấp xã còn yếu về trình độ và năng lực điều hành. Nhiều cán bộ xã chƣa qua đào tạo, trình độ đại học chỉ khoảng 10% [http://www.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=35998&print=true] Vậy xây dựng nông thôn mới là một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, đi sâu giải quyết nhiều l nh vực, có sự liên kết giữa các l nh vực với nhau tạo nên khối thống nhất vững mạnh.
Chức năng của nông thôn mới 1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông phụ chất lƣợng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới n 7 bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại. Cần phân tách rõ nông thôn với thành thị; các đặc điểm riêng của thành thị và làng xã; phân công hợp lý thành thị với nông thôn, tức là nhấn mạnh nông thôn phục vụ thành thị, ngƣợc lại thành thị hỗ trợ nông thôn.
Đ chính là cơ sở quan trọng để thực hiện thành thị và nông thôn phát triển hài hoà. Trong quá trình hình thành nên đô thị đã xuất hiện 2 loại hiệu ứng: hiệu ứng kinh tế khu vực và hiệu ứng tập hợp, 2 hiệu ứng này quyết định thành thị thích hợp để phát triển công nghiệp, do vậy mà chức năng của thành thị cũng đƣợc thực hiện xuất phát trên cơ sở 2 loại hiệu ứng này [Trần Minh Yến, 2012]. Còn với nông thôn thì có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn. Xây dựng nông thôn mới hông c ngh a là biến nông thôn trở thành thành thị.
Hƣớng tƣ duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn. Chức năng giữ gìn văn hoá truyền thống Các phƣơng thức sản xuất, sinh sống cũng nhƣ cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm màu sắc dân tộc. Quy tắc hành vi của xã hội gồm những ngƣời quen này là những phong tục tập quán đã đƣợc hình thành từ lâu đời, ở đ con ngƣời đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đ. Ở đ quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất.
Cũng chính văn hoá quê hƣơng đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu nhƣ lòng ính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hƣơng., tất cả đƣợc sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải đƣợc giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi trƣờng thành thị là nơi c tính mở cao, con ngƣời cũng c tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hƣơng ở đây sẽ không còn tính kế tục [Trần Ngọc Ngoạn, 2008]. Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cƣ theo dân tộc mới là môi trƣờng thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hƣơng.