Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TẠI CÁC CHUNG CƢ 1. Những vấn đề lý luận về chính sách Phòng cháy chữa cháy 1. Định nghĩa "chung cư" tại Việt Nam Theo Điều 70 của Luật Nhà ở 2005: Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân. Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư.
Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm: Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích ban công, lôgia gắn liền với căn hộ đó; Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật; Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng. Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm: Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 2 Điều này; Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiếm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi đế xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát e 10 thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hoả và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào; 1. Thực trạng nhà chung cư ở Việt Nam hiện nay Nhà chung cư (theo cách hiểu thông thường là 10 tầng trở lên) ra đời do hệ quả của việc tăng dân số đô thị, thiếu đất đai xây dựng và giá đất ngày càng tăng cao. Mô hình này cho phép tạo ra nhiều tầng hay nhiều không gian sử dụng hơn, tận dụng đất đai nhiều hơn, chứa được nhiều hàng hoá và nhiều người hơn trong cùng một khu đất.
Nhà chung cư có thể được xem là giải pháp tất yếu trong hoạt động của nền kinh tế đô thị. Tuy nhiên không nên coi chúng một cách đơn giản là sự diện tích sử dụng theo chiều cao trên một diện tích đất hạn chế mà chúng có những yêu cầu khá nghiêm ngặt trong quá trình thiết kế và thi công. Xu thế hiện nay thường kết hợp đa chức năng trong một nhà chung cư, ở Việt Nam nhà chung cư thường được xây dựng là loại hình căn hộ, văn phòng cho thuê, khách sạn, trung tâm thương mại, ngân hàng. xu hướng kết hợp nhiều công năng khác nhau như: khách sạn, văn phòng, siêu thị,vũ trường, gara ôtô dẫn đến tính chất phức tạp, số lượng người tập trung rất đông, đến hàng hoá, vật liệu dễ cháy.
càng gia tăng mức độ nguy hiểm cháy nổ và tính chất phức tạp của trong công tác đảm bảo an toàn PCCC. 10 năm trở lại đây mô hình nhà chung cư ở Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ tại nhiều tỉnh thành , nhưng chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội các công trình như: Rose Garden (11 tầng), Trụ sở Tổng VINACONEX (12 tầng), Khách sạn Horison (14 tầng), Khách sạn Nikko (15 tầng), Fortuna Tower (16 tầng), Văn phòng Quang Trung (18 tầng), Khách sạn Melia HaNoi (22 tầng), Vietcombank Tower (22 tầng), Hà Nội Tower (25 tầng). có thứ hạng cao trong top nhà chung cư hơn 10 năm về trước đến nay bị thay thế bởi rất e 11 nhiều tòa nhà chung cư từ 18 đến 30 tầng, đặc biệt có tòa nhà Keangnam Landmark 72 với chiều cao 346m và 48 tầng, Lotte Center Hà Nội 272m và 65 tầng, Keangnam Landmark A&B 212m và 48 tầng, Dicovery Complex A (54 tầng), HPC Landmark 105 (50 tầng), Hà Nội Landmark 51 (51 tầng) ….với chức năng chủ yếu là văn phòng cho thuê, khách sạn, trụ sở.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, với lợi thế trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, việc phát triển nhà chung cư diễn ra mạnh mẽ hơn, những công trình tiêu biểu trước đây như: Sài Gòn Tower (17 tầng), Indochine Park (18 tầng), Somekset Chancellor (19 tầng), Harbour View (20 tầng), River Side Hotel (20 tầng), Diamond Plaza (21 tầng), Sun War Bank (22 tầng), Khách sạn Caravelle (24 tầng), Ocena Plaza (25 tầng), Sài Gòn Centre (27 tầng), Trung tâm thương mại Sài Gòn (34 tầng) đến nay bị thay thế bởi các tên tuổi như: Lanmark 81 với chiều cao 461m (81 tầng), Bitexco Financial Tower với 262m (68 tầng), Vietcombank Tower (48 tầng), Saigon One Tower (42 tầng), Saigon Center 2 (45 tầng). So sánh qua ta thấy thành phố Hồ Chí Minh không chỉ có nhiều nhà chung cư hơn mà có những công trình cao nhất ở Việt Nam. Tính chất nguy hiểm cháy nổ của nhà chung cư liên quan đến đặc điểm riêng của nó * Chiều cao của công trình Là đặc điểm có nhiều ảnh hưởng nhất đối với công tác PCCC của NCT. Nhà càng cao thì càng có nhiều yếu tố bất lợi cho công tác PCCC như: - Số lượng người đông, lối thoát nạn dài, kéo dài thời gian thoát nạn.
- Tốc độ, áp lực của gió trên cao làm tăng tốc độ phát triển của đám chay. - Khó khăn cho việc cứu hộ, cứu nạn, khó khăn cho việc cấp nước chữa cháy và triển khai các hoạt động chữa cháy trên các tầng cao… * Lối thoát nạn Lối thoát nạn trong NCC có các yêu cầu khác hẳn đối với các loại nhà e 12 thấp tầng, lối thoát nạn trong nhà chung cư chủ yếu là các cầu thang bộ. Như trên đã nêu, nhà càng nhiều tầng thì số lượng người càng đông, đồng thời đường thoát nạn qua các cầu thang bộ càng dài và thời gian thoát nạn ra khỏi nhà càng lâu. Bên cạnh đó, nếu không có các giải pháp phòng chống cháy đặc biệt cho các buồng thang thì các thang thoát nạn lại chính là con đường lan truyền của lửa, khói, hơi nóng và khí độc sinh ra từ đám cháy theo chiều đứng lên các tầng trên, làm đám cháy càng phát triển lớn, đồng thời cản trở việc thoát nạn và đe doạ nghiêm trọng đến sinh mạng của nhiều người.
Vì vậy, các buồng thang bộ trong nhà chung cư phải đảm bảo các điều kiện an toàn cho người thoát nạn khi xảy ra cháy (chống được lửa, khói, được chiếu sáng, có thông gió điều áp…) * Các đường lan truyền cháy Nhà chung cư thường có các hệ thống giao thông nội bộ theo chiều ngang và chiều đứng như hành lang trong, buồng thang bộ, thang máy, có các kênh, giếng kỹ thuật về điện, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, cấp khí đốt, thông gió và điều hoà không khí, ống đổ rác, giếng trời v.v… Các bộ phận này đều bố trí ở bên trong nhà, vì vậy khi xảy ra cháy, lửa, khói, hơi nóng và khí độc sinh ra từ đám cháy có thể qua các bộ phận này lan truyền theo chiều đứng và chiều ngang dẫn tới cháy lan ra toàn nhà và ảnh hưởng đến việc thoát nạn như đã nêu trên. Đám cháy còn có thể lan truyền ở mặt ngoài nhà qua các lỗ cửa, khoảng trống không có giải pháp ngăn cháy, qua các ban công, lô gia có lắp đặt hoặc treo nhiều vật liệu dễ cháy. * Tầng hầm, tầng mái, tầng kỹ thuật Là những bộ phận đặc biệt thường có trong nhà chung cư và có liên quan đặc biệt tới công tác PCCC, ở đây có các điểm đầu và điểm cuối của các cầu thang, là lối đi lưu thông ngang giữa các buồng thang thoát nạn, là các lối đi tiếp cận vào công trình từ mái hoặc từ mặt đất của lực lượng PCCC; ở đây e 13 thường bố trí các hạng mục có nhiều nguy hiểm cháy nổ như gara ôtô, xe máy; trạm biến áp, trạm phát điện, điều hoà không khí, thông gió, kho tàng, hầm chứa rác… ở đây cũng là nơi bố trí các thiết bị, hệ thống PCCC như bể nước, trạm bơm nước chữa cháy… Vì vậy, cần có các giải pháp đảm bảo cho việc thoát nạn, phòng, chống cháy lan và đảm bảo các điều kiện cho việc chữa cháy, cứu người ở các tầng này, đặc biệt là giải pháp thoát khói, thoát nhiệt ở các tầng hầm bị cháy. * Khoảng trống ngoài nhà Để đảm bảo khoảng cách an toàn giữa các công trình và tạo điều kiện cho các lực lượng phương tiện chữa cháy triển khai các hoạt động chữa cháy, cứu người trên cao, đặc biệt đối với nhà chung cư phải có đường, bãi đảm bảo cho những xe thang với chiều dài và tải trọng lớn hoạt động.
Ở Việt Nam, yêu cầu này thường không đảm bảo, nhất là đối với các nhà chung cư xây chen trong các khu phố hiện có. * Đặc điểm công năng Nhà chung cư được xây dựng và sử dụng với nhiều công năng khác nhau như nhà ở, văn phòng, trụ sở cơ quan, khách sạn… mỗi công năng đều có tính chất, đặc điểm riêng, giải pháp, biện pháp riêng về PCCC. Hiện nay có xu hướng xây dựng các nhà chung cư kết hợp nhiều công năng khác nhau như: khách sạn kết hợp với nhà ở căn hộ, văn phòng, siêu thị, nhà hàng, vũ trường, hội trường, câu lạc bộ, gara ôtô… dẫn đến tính chất hoạt động phức tạp, số lượng người tập trung đông, khối lượng hàng hoá, vật liệu cháy tập trung càng gia tăng mức độ nguy hiểm cháy và tính chất phức tạp trong công tác đảm bảo an toàn PCCC trong các công trình này. Khái niệm “Chính sách Phòng cháy chữa cháy” 1.
Khái niệm “Chính sách” Chính sách là gì? Đây là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan e 14 đến chính trị và pháp quyền. Theo Từ điển tiếng Việt[1] “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” chính sách cần được hiểu ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền như nói ở trên. Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được.