CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về hộ tịch - Khái niệm hộ tịch Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được kết hôn; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đối với quốc tịch… Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Hộ tịch bao gồm các sự kiện: Một là, sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc. Trong đó, thay đổi hộ tịch là việc thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo yêu cầu của cá nhân đó khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự.
7 e Cải chính hộ tịch là việc cơ quan đăng ký hộ tịch cải chính (sửa chữa) những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng có sai sót khi đăng ký hộ tịch. Điều chỉnh hộ tịch là việc cơ quan đăng ký hộ tịch căn cứ vào bản chính Giấy khai sinh để điều chỉnh các nội dung đã được đăng ký trong sổ hộ tịch và các giấy tờ hộ tịch khác (không phải là Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh) cho phù hợp với các nội dung tương ứng trong bản chính Giấy khai sinh. Bổ sung hộ tịch là việc ghi bổ sung những nội dung chưa được đăng ký trong Sổ Khai sinh và Giấy khai sinh. Xác định lại giới tính là việc cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền công nhận việc xác định lại giới tính của một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính theo quy định của Bộ Luật Dân sự.
Xác định lại dân tộc là việc cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định lại dân tộc của người con theo dân tộc của người cha hoặc dân tộc của người mẹ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Dân sự. Hai là, căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi. - Hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi và lưu lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân; là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Sự kiện quan trọng thường được ghi nhận bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, ly thân tư pháp, nhận nuôi con nuôi, hợp pháp hoá lãnh sự; là 8 e những sự kiện nhân thân không quy đổi được bằng tiền; do đó hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường.
- Hộ tịch là những nguyên tắc, giá trị không thể chuyển đổi cho người khác. Vì vậy, các sự kiện hộ tịch phải do cá nhân trực tiếp đi thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (như: người yêu cầu đăng ký hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay; trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện, nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại. Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải chứng thực.
Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Nhằm bảo đảm kịp thời, chính xác và thuận tiện cho người dân, tránh gây phiền hà cho người dân. - Khái niệm pháp luật về hộ tịch Pháp luật về hộ tịch là một bộ phận của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa; là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hộ tịch, nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và góp phần trong công tác quản lý dân cư của Nhà nước. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân 9 e dân, do đó pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Như vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện. Việc thực hiện pháp luật về hộ tịch đã có lịch sử lâu đời từ thời phong kiến ở nước ta, đã xuất hiện từ Nhà Trần và các triều đại phong kiến tiếp theo, nhưng việc quản lý hộ tịch được thực hiện một cách đầy đủ, có khoa học, được bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc. Điểm nổi bật trong hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch của thời kỳ này là có một đội ngũ hương chức chuyên làm công tác hộ tịch, gọi là Hộ lại. Hộ lại là người nắm giữ sổ sách hộ tịch và trực tiếp đăng ký các việc hộ tịch trong địa bàn cấp xã do mình phụ trách.
Việc quản lý hộ tịch đòi hỏi phải nắm rất kỹ từng người dân, từng gia đình nên chức danh Hộ lại được bổ nhiệm suốt đời (trừ khi bị truất chức do vi phạm), thậm chí được khuyến khích “ cha truyền con nối”. Điểm nổi bật thứ hai trong quản lý hộ tịch thời Pháp thuộc là có hệ thống sổ sách hộ tịch (gọi là: sổ bộ), đầy đủ, khoa học và được bảo quản rất cẩn thận. Hiện nay, một số sổ sách hộ tịch thời Pháp thuộc vẫn còn được lưu giữ tại thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ. Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.
Theo tinh thần Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam Kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung Kỳ và Dân luật Bắc Kỳ vẫn được tiếp tục áp dụng. 10 e Ngày 08/5/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch. Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế Bản điều lệ được ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTg. Theo quy định tại hai bản điều lệ nói trên, thì Bội Nội vụ là cơ quan được Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ thống nhất chỉ đạo, tổ chức quản lý hộ tịch, việc đăng ký hộ tịch do Ủy ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khu phố phụ trách.
Năm 1987, nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch được chuyển giao từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp trên cơ sở Nghị định số 219/HĐBT ngày 20/11.1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); từ thời điểm này, Bộ tư pháp được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch trên phạm vi cả nước. Năm 2005, việc đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực. Nghị định số 06/2012/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP theo hướng đơn giản hóa các thủ tục khi đăng ký hộ tịch, quy định cụ thể các giấy tờ cần thiết đối với từng sự kiện hộ tịch, bổ sung quy định đối với hồ sơ đăng ký hộ tịch, hồ sơ xin cấp bản sao từ sổ gốc gửi qua hệ thống bưu chính. Đồng thời, Nghị định số 06/2012/NĐ-CP đã rút ngắn thời hạn giải quyết một số thủ tục về hộ tịch.
Sau 60 năm thực hiện bằng các văn bản dưới Luật do Chính phủ ban hành, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua vào ngày 20/11/2014 Luật Hộ tịch với 7 Chương, 77 Điều và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Là lần đầu tiên Nhà nước ban hành văn bản Luật trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch. Luật Hộ tịch có nhiều quy định mới mang tính đột 11 e phá ‘’cách mạng’’ về thẩm quyền đăng ký hộ tịch, phương thức đăng ký; quản lý hộ tịch; cải cách thủ tục hành chính.