CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐÁNH GIÁ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC 1. Một số vấn đề lý luận về viên chức ngành giáo dục 1. Khái niệm viên chức và viên chức ngành giáo dục Trước đây, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/01/2003 của Chính phủ định nghĩa: “VC là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch VC hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật” [10]. Hiện nay, theo quy định tại Điều 2, Luật Viên chức năm 2010, khái niệm VC được hiểu như sau: “VC là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [22].
Như vậy, pháp luật hiện hành đã có những quy định cụ thể về thuật ngữ “VC”, từ đó có thể dễ dàng xác định những đối tượng là VC để làm cơ sở cho việc nghiên cứu pháp luật về VC. Có thể nhận thấy, VC có một số dấu hiệu nhận biết như: là công dân Việt Nam; được tuyển dụng bởi Nhà nước; làm các công việc mang tính chất thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp công lập; được ký hợp đồng làm việc; được trả lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập; được điều chỉnh bởi một luật riêng. Có thể hiểu, VC nói chung là những người làm những công việc thuần túy về chuyên môn, nghiệp vụ như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, công tác văn hóa xã hội. tại các đơn vị sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước, không nhân danh quyền lực chính trị; hoạt động nghề nghiệp của VC nhằm cung cấp các dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm phi vật chất, dựa trên kỹ năng chuyên môn, mang tính nghiệp vụ cao.
VC giáo dục bao gồm các VC làm công tác quản lý, VC giáo viên và VC làm 9 n công việc hỗ trợ, phục vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập. VC quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. VC giáo viên là những người chỉ thực hiện công việc mang tính chuyên môn nghiệp vụ (giảng dạy) trong các cơ sở giáo dục công lập. Ngoài ra, VC giáo dục còn có những nhân viên trong cơ sở giáo dục công lập như: thủ quỹ, kế toán, phòng thí nghiệm, thư viện, văn thư….
VC giáo dục phần lớn là giáo viên, nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo. Trên cơ sở quan niệm chung về VC nói trên và các đặc điểm riêng của VC ngành giáo dục tác giả khái quát khái niệm VC ngành giáo dục như sau:“VC ngành giáo dục là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các cơ sở giáo dục công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của cơ sở giáo dục công lập theo quy định của pháp luật”. Phân loại viên chức ngành giáo dục Việc phân loại VC nhằm xác định những chức năng, quyền hạn cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của VC. Tùy thuộc vào các căn cứ khác nhau mà VC được phân thành các loại khác nhau.
Hiện nay, có nhiều cách phân loại VC tuy nhiên có hai cách phân loại VC phổ biến là căn cứ vào vị trí việc làm và căn cứ vào chức danh nghề nghiệp. Căn cứ theo vị trí việc làm, VC được phân loại như sau: - VC quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý; - VC không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện nhiệm vụ mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ theo chức danh nghề nghiệp, VC được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau: - VC giữ chức danh nghề nghiệp hạng I; 10 n - VC giữ chức danh nghề nghiệp hạng II; - VC giữ chức danh nghề nghiệp hạng III; - VC giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV. Phân loại VC có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng và quản lý đội ngũ VC có hiệu quả: là cơ sở để đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển chọn người vào làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu của công việc; giúp cho việc xác định tiền lương, các chế độ, chính sách một cách hợp lý, chính xác; giúp cho việc xây dựng, quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng VC đúng đối tượng theo yêu cầu, nội dung công việc.
Đối với ngành giáo dục việc phân loại VC được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, VC được phân thành 3 nhóm sau: Nhóm công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; Nhóm công việc hoạt động nghề nghiệp; Nhóm công việc hỗ trợ, phục vụ. Tiêu chuẩn đối với viên chức ngành giáo dục Kết quả hoạt động của đơn vị phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ VC. Chất lượng đội ngũ VC được hình thành dựa trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp VC và chịu ảnh hưởng của các nội dung quy định trong tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp VC. Đó là cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, ĐG, lựa chọn, bố trí sắp xếp và sử dụng VC; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi VC phấn đấu, tự rèn luyện, hoàn thiện mình.
Tiêu chuẩn VC bao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể. Tiêu chuẩn chung là điều kiện cần, mang tính chất “cứng” mà bất cứ công dân nào muốn tham gia nhiệm vụ đều phải hội đủ. Tiêu chuẩn cụ thể là điều kiện đủ, gắn với từng vị trí việc làm cụ thể. Nó thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của ngành, lĩnh vực và mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể.
Hiện nay, theo nội dung của các thông tư liên tịch giữa Bộ Nội vụ - Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp VC giảng dạy 11 n trong các cơ sở giáo dục thì VC phải đảm bảo các tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Đối với nhóm VC làm công việc hỗ trợ phục vụ các tiêu chuẩn được quy định theo từng vị trí việc làm do các Bộ quản lý chuyên ngành quy định. Ngoài tiêu chuẩn chung, tùy thuộc vào từng hạng VC khác nhau sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể khác nhau, bao gồm tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng. Trong bối cảnh đất nước đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì yêu cầu về tiêu chuẩn năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ VC là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Để có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao giúp đất nước phát triển thì VC giáo dục nói chung trong thời đại ngày nay phải đáp ứng các yêu cầu sau: có trình độ đào tạo, bồi dưỡng; có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ tốt; nắm vững tình hình và xu thế phát triển ngành, lĩnh vực công tác trong nước và thế giới; các quy định của pháp luật có liên quan đến VC giáo dục. Trong hoạt động thực tiễn, các cơ quan quản lý VC đều căn cứ vào tiêu chuẩn VC để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, ĐG, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý VC. Ở một mức độ nhất định có thể coi tiêu chuẩn VC là nền móng để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ VC, đồng thời nó cũng là một yếu tố quan trọng trong hoạt động ĐGVC. Một số vấn đề lý luận về đánh giá viên chức giáo dục 1.
Khái niệm đánh giá viên chức giáo dục ĐGVC được coi là một trong những khâu quan trọng, căn bản trong quá trình quản lý và sử dụng VC, được tiến hành thường xuyên hàng năm hoặc trước khi xem xét đề bạt, thay đổi vị trí công tác đối với VC. Việc ĐGVC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định đến hiệu quả sử dụng VC, vì vậy việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về ĐGVC là điều hết sức cần thiết để làm cơ sở cho việc áp dụng các quy định của pháp luật về ĐGVC, mà trước hết là phải làm rõ khái niệm ĐGVC. Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm về 12 n ĐGVC. Do đó, để có thể hiểu được khái niệm ĐGVC cần phải cắt nghĩa, phân tích, làm rõ nghĩa của các từ ngữ có trong thuật ngữ “ĐGVC”.
Thuật ngữ “ĐGVC” được cấu thành từ hai thành tố là “ĐG” và “VC”. Trong đó, thành tố “VC” đã được làm rõ nên chỉ cần làm rõ thành tố “ĐG” để có thể hiểu được nghĩa thuật ngữ “ĐGVC”. Theo Từ điển tiếng Việt thì: “ĐG có nghĩa là nhận xét, bình phẩm về giá trị” [31, tr. Để hiểu rõ khái niệm ĐG cần tìm hiểu các khái niệm có liên quan như nhận định, giá trị, nhận xét, xem xét.
Trong Từ điển Tiếng Việt, nhận định nghĩa là: “đưa ra ý kiến có tính chất ĐG, kết luận, dự đoán về một đối tượng, một tình hình nào đó”; giá trị là: “cái làm cho một vật có lợi ích, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó”; còn nhận xét là: “đưa ra ý kiến có xem xét và ĐG về một đối tượng nào đó”; xem xét nghĩa là: “tìm hiểu, quan sát kĩ để ĐG, rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết”. Theo cách tiếp cận này, ĐG được hiểu là việc tìm hiểu, quan sát để đưa ra ý kiến, kết luận, dự đoán về tác dụng, lợi ích, hiệu quả của một đối tượng hay một tình hình nào đó.