Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI 1.1 Lý luận chung về nuôi con nuôi và pháp luật nuôi con nuôi 1.1 Khái niệm chung về nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là một hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Vấn đề con nuôi liên quan không chỉ đến các quan hệ gia đình, quan hệ dân sự mà nó còn liên quan đến những vấn đề chính trị- xã hội rộng lớn khác. Ngay từ thời La Mã cổ đại đã hình thành chế định pháp luật về nuôi con nuôi. Ở Việt Nam vấn đề con nuôi cũng đã được quy định trong pháp luật từ thời phong kiến, tiêu biểu là trong bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ.
Hai Bộ luật này thể hiện rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người Việt Nam về gia đình và quy định điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi trong thời kỳ đó. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3 của Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội, năm 2003, thì: “Nuôi con nuôi là việc một người (người nuôi) nhận nuôi người khác (con nuôi) nhằm tạo ra những tình cảm gắn bó giữa hai người, bảo đảm cho người con nuôi được thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt. Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã/phường/thị trấn (UBND cấp xã) nơi người nuôi và của con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Thông qua sự kiện pháp lý này giữa người nuôi và con nuôi phát sinh các quyền và nghĩa vụ như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ” [38, tr.
Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi” [29, Đ. Ta có thể xem xét khái niệm về nuôi con nuôi dưới hai góc độ: Góc độ xã hội và góc độ pháp lý: 8 - Dưới góc độ xã hội Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội hình thành một cách tự nhiên trong đời sống của con người, nó xuất hiện và tồn tại từ lâu trong lịch sử, thể hiện sự gắn bó giữa con người với nhau trên cơ sở vì lợi ích chung, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người và mang tính nhân đạo sâu sắc. Khi một cá nhân được tiếp nhận vào một gia đình và tạo ra những liên hệ mới mang tính chất gia đình mới, thay thế một phần hoặc toàn bộ mối liên hệ ruột thịt trước đây, những quan hệ mang tính chất gia đình này có giá trị như mối quan hệ huyết thống và được xã hội thừa nhận. Quan hệ nuôi con nuôi có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như nuôi con nuôi theo phong tục tập quán, nuôi con nuôi lập tự, nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi lấy phúc…Mặc dù các hình thức nuôi con nuôi này tồn tại và xác lập các quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con, nhưng các hình thức trên đều không được pháp luật ghi nhận.
Các hình thức nuôi con nuôi này trên thực tế đã hình thành quan hệ cha, mẹ và con, giữa họ đã tồn tại tình cảm yêu thương, chăm sóc, nhưng quan hệ nuôi dưỡng này thường chỉ tồn tại trên danh nghĩa giữa bên nhận nuôi và bên được nhận nuôi chứ không có ý nghĩa về mặt pháp luật. Vì vậy, về nguyên tắc những hình thức nuôi con nuôi nói trên không được công nhận về mặt pháp lý mà chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về tình cảm giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Dưới góc độ xã hội thì nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con trên thực tế giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi nhằm đáp ứng những nhu cầu về tình cảm và lợi ích giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. - Dưới góc độ pháp lý Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi là một chế định đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam.
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, 9 mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi dựa trên cơ sở ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi có thể được xem xét dưới các góc độ: Thứ nhất: Nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý Từ góc độ lý luận chung, sự kiện pháp lý là những hoàn cảnh, tình huống, điều kiện của đời sống thực tế, được ghi nhận trong phần giả định của các quy phạm pháp luật mà nhà làm luật gắn với sự phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể khi chúng xảy ra. Như vậy, không phải tất cả các sự kiện xảy ra, mà chỉ những sự kiện xã hội nào có ý nghĩa pháp lý mà nhà làm luật thừa nhận trong các quy phạm pháp luật tương ứng. Một sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật, hoặc cũng có nhiều trường hợp phải có nhiều sự kiện pháp lý mới làm phát sinh quan hệ pháp luật [11].
Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật nuôi con nuôi được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Sự kiện pháp lý của việc nuôi con nuôi bao gồm: Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi, ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi, ý chí của bản thân người con nuôi (theo độ tuổi nhất định do pháp luật quy định) và ý chí của Nhà nước. + Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó.
+ Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi. Ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải tự nguyện, không có bất cứ sự tác động, dụ dỗ, ép buộc nào. + Sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi. Pháp luật quy định trẻ 10 em từ đủ 9 tuổi trở lên có quyền thể hiện ý chí độc lập, quyết định vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình; sự đồng ý làm con nuôi của trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên là điều kiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lí.
Thể hiện quyền cơ bản của trẻ em trong việc bày tỏ ý kiến của mình. + Sự thể hiện ý chí của Nhà nước. Ý chí của Nhà nước được thể hiện qua việc công nhận (hay không công nhận) việc nuôi con nuôi, thông qua thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi (hay từ chối việc đăng kí nuôi con nuôi). Việc nuôi con nuôi được công nhận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm phát sinh hiệu lực pháp lí của việc nuôi con nuôi [20].
Việc nuôi con nuôi là tập hợp các sự kiện pháp lí. Nếu thiếu đi một trong các sự kiện cấu thành tập hợp đó thì không làm phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi. Vậy, dưới góc độ là một sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu là việc một người (hoặc hai người là vợ chồng) nhận nuôi dưỡng người khác không do họ sinh ra, nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật [20]. Thứ hai: Nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội đặc biệt nảy sinh do sự tác động hữu cơ giữa quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lý tương ứng làm xuất hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể [13].
Quan hệ pháp luật nuôi con nuôi là dạng quan hệ xã hội đặc trưng bởi sự hiện diện và tương tác về quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa các bên có liên quan trong việc cho, nhận con nuôi và được các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng giữa các chủ thể, trên cơ sở quan hệ cha, mẹ, con hợp pháp giữa người nhận và người được nhận làm con nuôi. Do đó, quan hệ pháp luật nuôi con nuôi cũng có đầy đủ các yếu tố về chủ thể, khách thể và nội dung. 11 + Về chủ thể của quan hệ pháp luật nuôi con nuôi: bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Đối với cha mẹ nuôi phải đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi; đối với con nuôi phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi; đối với cha mẹ đẻ phải xác định được hậu quả pháp lý sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập.
Sự thể hiện ý chí của các bên là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ nuôi con nuôi, để tránh tình trạng xảy ra tranh chấp và đảm bảo cuộc sống ổn định cho con nuôi sau này. + Về khách thể của quan hệ pháp luật nuôi con nuôi là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các bên cùng mong muốn là chung sống với nhau và xác lập quan hệ cha, mẹ, con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất cho các bên. Những lợi ích về tinh thần trong quan hệ nuôi con nuôi rất đa dạng, có thể là sự thỏa mãn mong muốn có con, có chỗ dựa lúc tuổi già, sự hướng thiện, niềm tin, đạo đức…; những lợi ích vật chất có thể là điều kiện ăn ở, học hành, khám chữa bệnh… + Về nội dung của quan hệ pháp luật nuôi con nuôi: Quan hệ nuôi con nuôi được xác lập làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, không chỉ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi mà còn đối với cả cha mẹ đẻ. Giữa các chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng trên cơ sở phát sinh quan hệ cha, mẹ và con hợp pháp giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi.
Quyền và nghĩa vụ đó tạo thành nội dung của quan hệ pháp luật nuôi con nuôi và được pháp luật quy định cụ thể, đảm bảo phù hợp với bản chất của mối quan hệ nuôi con nuôi.