CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH VĂN HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách công Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Hải: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” Viện chính trị học khái niệm: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” Theo Đặng Ngọc Lợi: chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ.
Quan niệm của Lê Chi Mai thì chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định thể hiện trên văn bản và những hành động, hành vi thực tiễn ở các địa phương. Theo quan điểm của Hồ Việt Hạnh có một số quan niệm chính sách công cụ thể như sau: Môt là, chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước. Hai là, các quan niệm có xu hướng giới hạn vào chủ thể là nhà nước và nếu mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước. Ba là, một số quan niệm tính đến mục tiêu giải quyết vấn đề như một thành tố quan trọng làm tiêu chí xác định chính sách công.
Tiêu chí đó có thể là giải quyết những vấn đề bức xúc, quan tâm chung của cộng đồng. 10 n Bốn là, chính sách công phải được xem như một quá trình xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá. Từ những phân tích trên cho thấy, chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. Khái niệm văn hóa Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,.
tất cả đều xuất phát từ văn hóa” [48] Theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm thì: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử". Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa như văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn….
[6] Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, các phương tiện…. 11 n Từ những phân tích trên, văn hóa được hiểu là một hệ thống tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong thực tiễn lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu sinh kế phát triển và mục đích của cuộc sống con người. Khái niệm gia đình Gia đình Việt Nam thường bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống như: ông bà, cha mẹ, con, cháu. Họ cùng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội.
Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để mọi người và các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng gia đình văn hóa, ấm no, hạnh phúc. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật HN&GĐ [63] Gia đình được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ. Đồng thời được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức, v.v… Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại. Gia đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hội rộng lớn.
Do đó, sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của quê hương, đất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển bền vững, sự ấm no, hạnh phúc của từng thành viên, mỗi gia đình trong xã hội tại các địa phương. [74] Như vậy, gia đình được hình thành từ quan hệ hôn nhân, huyết thống dòng tộc được xây dựng trên cơ sở truyền thống dân tộc và quy định hôn nhân gia đình từ đó phát sinh các nghĩa vụ và quyền của từng thành viên trong gia đình. Khái niệm gia đình văn hóa Năm 1960, GĐVH là khái niệm do Ban chỉ đạo nếp sống mới Trung ương đặt ra để chỉ một kiểu VHGĐ mới, một trình độ văn hóa gia đình mới ở nước ta. 12 n Nếu VHGD là hệ thống các giá trị, chuẩn mực mang bản sắc riêng của gia đình thì GĐVH là danh hiệu ghi nhận, khen thưởng các gia đình đã đạt được một số các giá trị, chuẩn mực đã đề ra.
Giữa GĐVH và VHGĐ là mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức. GĐVH được hiểu và xác định dựa trên các tiêu chí cụ thể. Khi đất nước bắt đầu xây dựng xã hội mới ở miền bắc, trong giai đoạn này, trọng tâm là xóa bỏ kinh tế tư hữu, vận động nhân dân chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn, tạo nên sức mạnh đoàn kết, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vậy ba tiêu chuẩn của GĐVH mới năm 1962 được Bộ văn hóa khẳng định đó là gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong tâm là tham gia xây dựng hợp tác xã, không buôn bán bên ngoài; Xây dựng tinh thần đoàn kết xóm thôn, giúp nhau trong lao động sản xuất; Gia đình vệ sinh, ngăn nắp, gọn gàng và chi tiêu tiết kiệm.
[16] Đến ngày 17/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 122/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về xét tặng danh hiệu “GĐVH”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”. Theo đó, các tiêu chuẩn danh hiệu về GĐVH bao gồm gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương nơi cư trú; Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ, giúp đỡ mọi người trong cộng đồng; Tổ chức lao động, sản xuất kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng hiệu quả. Từ đó, có thể hiểu theo quan điểm của tác giả, GĐVH là gia đình đảm bảo chấp hành nghiêm các tiêu chí trong chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và được các cấp chính quyền công nhận danh hiệu GĐVH theo quy định. Khái niệm chính sách phát triển gia đình văn hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới là xây dựng môi trường văn hóa và “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình 13 n Việt Nam.
Nâng cao giá trị truyền thống dân tộc, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”. Con người sống trong xã hội tất nhiên sẽ phát sinh nhiều loại quan hệ và những mối quan hệ này ở những mức độ khác nhau sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội. Nhận thức được vai trò của gia đình trong việc giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế, góp phần nuôi dưỡng giáo dục, nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước: “Xây dựng môi trường văn hóa là xây dựng VHGĐ, tạo ra ở các đơn vị cơ sở, các vùng dân cư ĐSVH lành mạnh.” [1] Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI khẳng định “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa”.
Sự phát triển bền vững của đất nước thực chất là phát triển bền vững con người mà muốn vậy, phải đặc biệt chú trọng thực hiện chiến lược phát triển văn hóa, môi trường văn hóa và VHGĐ. Từ nền tảng môi trường xã hội lành mạnh, môi trường văn hóa lành mạnh là cơ sở để xây dựng những con người toàn diện, hình thành nhân cách văn hóa, tạo nguồn nhân lực cho đất nước. [59] Qua phân tích trên, có thể hiểu, chính sách phát triển GĐVH là được hình thành và phát triển từ những giá trị văn hóa gia đình tốt đẹp, có chuẩn mực góp phần tạo nên những yếu tố nền tảng mang bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo tiền đề xây dựng nhân cách con người, đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển với các tiêu chí cơ bản: ấm no, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ, làm nền tảng để xã hội phát triển bền vững.