Luận văn: Thực hiện chính sách đào tạo cán bộ cấp phòng tại An Giang

Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp đào tạo cán bộ cấp phòng tỉnh An Giang. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá cơ sở lý luận về đào tạo cán bộ cấp phòng

Chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ là nền tảng cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp phòng, những người trực tiếp tham mưu và tổ chức thực thi nhiệm vụ chính trị tại các sở, ban, ngành. Luận văn của tác giả Trần Hồng Trân (2021) đã hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận về đào tạo bồi dưỡng, dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, nhấn mạnh vai trò then chốt của cán bộ trong mọi công việc. Tiếp nối tư tưởng đó, các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 26-NQ/TW, đã xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Nội dung cốt lõi của chính sách này không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức chuyên môn mà còn bao gồm cả việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Quá trình này đòi hỏi một cách tiếp cận khoa học, từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra, đánh giá. Đây là một chu trình khép kín nhằm đảm bảo hiệu quả chính sách công và nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ công chức, đáp ứng yêu cầu của nền hành chính công hiện đại và hội nhập quốc tế.

1.1. Quan niệm về cán bộ và chính sách đào tạo bồi dưỡng

Theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Cán bộ cấp phòng, bao gồm Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng, là lực lượng nòng cốt, có trách nhiệm tham mưu và triển khai các nhiệm vụ quản lý nhà nước. Chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ được hiểu là tổng thể các quan điểm, quyết định và giải pháp của nhà nước nhằm nâng cao năng lực cán bộ, giúp họ đáp ứng tiêu chuẩn chức danh và yêu cầu công việc. Đây là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước về cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp.

1.2. Mối quan hệ giữa đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức

Đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ nhưng cũng có sự khác biệt. Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức một cách hệ thống, thường kéo dài và cấp văn bằng chính quy, nhằm nâng cao trình độ. Trong khi đó, bồi dưỡng là hoạt động cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng trong thời gian ngắn để đáp ứng yêu cầu công việc trước mắt. Cả hai hoạt động này đều là một phần không thể thiếu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giúp kết nối giữa lý luận và thực tiễn, đảm bảo chất lượng đội ngũ công chức ngày càng được cải thiện, phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

1.3. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nhân lực

Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ. Từ Nghị quyết số 03-NQ/TW (khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đến Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa XII), các chủ trương đều nhấn mạnh việc đầu tư cho đào tạo là đầu tư cho phát triển bền vững. Nhà nước cũng đã thể chế hóa các chủ trương này bằng hệ thống văn bản pháp luật như Luật Cán bộ, công chức, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại các địa phương, trong đó có tỉnh An Giang.

II. Đánh giá thực trạng chính sách đào tạo cán bộ An Giang

Giai đoạn 2017-2020, tỉnh An Giang đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp phòng. Dựa trên số liệu từ Sở Nội vụ An Giang, chất lượng đội ngũ cán bộ đã có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thực trạng và giải pháp vẫn là vấn đề cần được quan tâm sâu sắc. Việc phân tích thực trạng không chỉ dừng lại ở các con số thống kê về trình độ, mà còn đi sâu vào các khía cạnh như sự phù hợp giữa đào tạo và quy hoạch cán bộ, tính hiệu quả của các chương trình bồi dưỡng và những thách thức trong bối cảnh mới. Một số cơ quan vẫn chưa quan tâm đúng mức đến công tác này, dẫn đến tình trạng cán bộ được bổ nhiệm nhưng còn thiếu chuẩn theo quy định. Công tác đánh giá công tác đào tạo đôi khi chưa phản ánh đúng thực chất năng lực của cán bộ sau khi hoàn thành khóa học. Việc đào tạo chưa thực sự gắn với đào tạo theo vị trí việc làm, gây ra sự lãng phí nguồn lực và chưa phát huy tối đa tiềm năng của cán bộ. Những hạn chế này đòi hỏi UBND tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan cần có những điều chỉnh kịp thời để chính sách thực sự đi vào chiều sâu, tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao.

2.1. Phân tích chất lượng đội ngũ cán bộ cấp phòng hiện tại

Tính đến năm 2020, tỉnh An Giang có 406 cán bộ lãnh đạo cấp phòng. Về cơ cấu, tỷ lệ nam (71,67%) vẫn cao hơn nhiều so với nữ (28,33%). Về trình độ, 99,51% cán bộ có trình độ từ đại học trở lên, trong đó thạc sĩ chiếm 26,11%. Về lý luận chính trị, 91,13% đạt trình độ từ trung cấp trở lên. Các số liệu này cho thấy một nền tảng tốt về mặt học vấn. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ chưa đạt chuẩn về lý luận chính trị và quản lý nhà nước, cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng để chuẩn hóa chất lượng đội ngũ công chức.

2.2. Kết quả triển khai chính sách đào tạo giai đoạn 2017 2020

Trong giai đoạn 2017-2020, An Giang đã cử hàng trăm lượt cán bộ cấp phòng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Cụ thể, có 80 người được đào tạo chuyên môn (3 tiến sĩ, 64 thạc sĩ, 13 đại học), 364 người học cao cấp và trung cấp lý luận chính trị. Công tác bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cũng được chú trọng với hàng trăm lượt cán bộ tham gia các lớp chuyên viên, chuyên viên chính. Những kết quả này cho thấy sự nỗ lực của tỉnh trong việc nâng cao năng lực cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ kế cận vững mạnh cho các chức danh lãnh đạo cấp sở.

2.3. Hạn chế và thách thức trong việc thực hiện chính sách

Bên cạnh thành tựu, việc thực hiện chính sách vẫn còn một số hạn chế. Luận văn chỉ ra rằng, công tác đào tạo đôi khi chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ. Một số cán bộ trẻ còn hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Thách thức lớn nhất hiện nay là làm thế nào để nội dung đào tạo bám sát yêu cầu của vị trí việc làm và xu thế phát triển của xã hội, tránh tình trạng đào tạo chỉ để hoàn thiện bằng cấp mà không mang lại hiệu quả chính sách công thực sự.

III. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo cán bộ

Để chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ cấp phòng tại An Giang đạt hiệu quả, quy trình tổ chức thực hiện phải được tiến hành một cách khoa học và đồng bộ. Quá trình này không chỉ là trách nhiệm của Sở Nội vụ An Giang hay Ban Tổ chức Tỉnh ủy, mà đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là xây dựng kế hoạch. Kế hoạch phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên kết quả phân tích nhu cầu và gắn liền với chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn của tỉnh. Sau khi có kế hoạch, khâu tổ chức thực hiện đóng vai trò quyết định. Điều này bao gồm việc lựa chọn đúng đối tượng, phối hợp với các cơ sở đào tạo uy tín, và đảm bảo nguồn kinh phí. Công tác chỉ đạo, giám sát cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời tháo gỡ khó khăn và điều chỉnh những bất cập. Cuối cùng, đánh giá công tác đào tạo không chỉ dựa trên kết quả học tập mà còn phải xem xét sự tiến bộ của cán bộ trong quá trình thực thi công vụ sau khóa học. Một quy trình chặt chẽ sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo mục tiêu nâng cao năng lực cán bộ được thực hiện một cách bền vững.

3.1. Xây dựng kế hoạch và xác định mục tiêu đào tạo cụ thể

Việc lập kế hoạch đào tạo hàng năm và dài hạn phải dựa trên các căn cứ pháp lý và định hướng phát triển của tỉnh. Mục tiêu phải được xác định rõ ràng, cụ thể cho từng đối tượng, từ việc bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh đến đào tạo theo vị trí việc làm. Kế hoạch cần dự trù chi tiết về nội dung, hình thức, thời gian và kinh phí, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của từng sở, ban, ngành.

3.2. Vai trò của các cơ quan trong phối hợp triển khai

Sự thành công của chính sách phụ thuộc rất lớn vào cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. UBND tỉnh An Giang chịu trách nhiệm chỉ đạo chung, Sở Nội vụ An Giang là cơ quan tham mưu, tổ chức thực hiện, trong khi Ban Tổ chức Tỉnh ủy quản lý các đối tượng thuộc diện quy hoạch. Các sở, ban, ngành có trách nhiệm tạo điều kiện và giám sát cán bộ của mình tham gia học tập. Sự phối hợp nhịp nhàng sẽ tạo ra một cơ chế vận hành thông suốt, hiệu quả trong quản lý công.

3.3. Tầm quan trọng của công tác kiểm tra giám sát

Kiểm tra, giám sát là hoạt động không thể thiếu để đảm bảo chính sách được thực thi đúng hướng. Hoạt động này giúp phát hiện sớm các sai lệch, từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Việc kiểm tra không chỉ nhằm đánh giá việc tuân thủ quy định mà còn là cơ hội để thu thập phản hồi từ người học và các đơn vị, làm cơ sở để cải tiến, hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực An Giang trong các giai đoạn tiếp theo.

IV. Bí quyết nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo cán bộ

Để tối ưu hóa hiệu quả chính sách công trong lĩnh vực đào tạo cán bộ, cần tập trung vào các yếu tố mang tính quyết định. Trước hết, nội dung chương trình đào tạo phải được đổi mới mạnh mẽ, không chỉ trang bị kiến thức lý luận mà cần tăng cường các chuyên đề thực hành, giải quyết tình huống thực tế và phát triển kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Việc đào tạo theo vị trí việc làm phải trở thành nguyên tắc cốt lõi, đảm bảo kiến thức và kỹ năng được trang bị thực sự hữu ích cho công việc. Thứ hai, cần có cơ chế khuyến khích, tạo động lực mạnh mẽ cho cán bộ. Chính sách phát triển nhân lực An Giang cần có các chế độ đãi ngộ hấp dẫn, gắn kết quả học tập với các cơ hội thăng tiến trong quy hoạch cán bộ. Đồng thời, cần có cơ chế sàng lọc, loại bỏ những cán bộ không đáp ứng yêu cầu. Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo, như các nền tảng học tập trực tuyến (E-learning), sẽ giúp cán bộ linh hoạt hơn về thời gian và tiết kiệm chi phí. Cuối cùng, công tác đánh giá công tác đào tạo cần được thực hiện một cách toàn diện, không chỉ đánh giá đầu vào, đầu ra mà còn phải theo dõi hiệu quả công việc của cán bộ sau đào tạo một thời gian.

4.1. Gắn kết đào tạo với quy hoạch và sử dụng cán bộ

Đây là giải pháp then chốt để tránh lãng phí. Cán bộ được cử đi đào tạo phải nằm trong diện quy hoạch cho các chức danh cao hơn. Sau khi hoàn thành khóa học, họ phải được bố trí vào những vị trí phù hợp để phát huy năng lực đã được trang bị. Sự gắn kết này tạo ra một chu trình khép kín, logic, từ quy hoạch cán bộ đến đào tạo và sử dụng, đảm bảo đầu tư cho con người mang lại hiệu quả thiết thực cho tổ chức.

4.2. Đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng hiện đại

Nội dung đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để bắt kịp với sự thay đổi của thực tiễn quản lý công và hội nhập quốc tế. Thay vì phương pháp truyền thụ một chiều, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống (case study), đóng vai. Điều này giúp phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề, những kỹ năng quan trọng đối với một người làm công tác quản lý trong nền hành chính công.

4.3. Hoàn thiện cơ chế tài chính và chính sách đãi ngộ

Nguồn kinh phí cho đào tạo cần được đảm bảo ổn định và phân bổ hợp lý. Luận văn đã nêu rõ các chính sách trợ cấp của An Giang theo Nghị quyết số 14/2019/NQ-HĐND. Cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách này, đặc biệt là chế độ đãi ngộ sau đào tạo, để khuyến khích cán bộ không ngừng học tập, nâng cao trình độ. Một chính sách tài chính minh bạch và hấp dẫn sẽ là đòn bẩy quan trọng để thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Quan niệm, nội dung về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: 1. Cán bộ và chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 1. Cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - Cán bộ Theo cách hiểu thông thường trong dân gian, cán bộ được coi là tất cả những người làm việc trong bộ máy của Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang.

Trong Từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là: người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan đảng, nhà nước và đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. Theo khoản 1, Điều 4, Luật cán bộ công chức quy định: cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Cán bộ phải thường xuyên tự bồi dưỡng và được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức, kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày càng phát triển.

Cán bộ - theo nghĩa chung nhất, là người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc người làm công tác chuyên môn, nhà khoa học hoặc công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị; hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ nguồn kinh phí khác; được hình thành thông qua bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và được phân công công tác. có trách nhiệm xây dựng, quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật. Cán bộ là nhân tố quyết định 7 sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây dựng được một đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng.

Công tác cán bộ là tổng thể các biện pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển, điều động cán bộ; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,. nhằm phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ theo hướng bố trí số lượng hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu về đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Đảng ta đã xác định đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Chính sách cán bộ là hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; là công cụ và các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng.

Chính sách cán bộ bao gồm: chính sách đào tạo, bồi dưỡng; chính sách sử dụng và quản lý cán bộ; chính sách đảm bảo lợi ích và động viên tinh thần cán bộ. Trong đó chính sách ĐTBD CBCC có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ CBCC ở Việt Nam có năng lực, uy tín phục vụ công cuộc cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. - Cán bộ cấp phòng Các chức danh lãnh đạo cấp phòng của các sở, ban, ngành tỉnh bao gồm: Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng; Trưởng ban, Phó Trưởng ban; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng (gọi chung là lãnh đạo cấp Phòng thuộc các sở, ban, ngành tỉnh). Tiêu chuẩn chức danh Trưởng phòng: Trưởng phòng là người đứng đầu phòng, chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị về việc triển khai các nhiệm vụ trong lĩnh vực được giao; tham mưu giúp việc Thủ trưởng đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được 8 giao; chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị về toàn bộ hoạt động của Phòng.

Có nhiệm vụ, tổ chức quản lý, điều hành công việc của phòng; quản lý, bố trí sử dụng có hiệu quả đối với công chức, viên chức và người lao động trong phòng; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các công chức, viên chức và người lao động trong phòng; hướng dẫn, đôn đốc công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý hoàn thành các nhiệm vụ được giao; kiểm soát việc chấp hành và tuân thủ các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước trong quá trình giải quyết các công việc của phòng; quản lý việc chấp hành chế độ về thời gian làm việc; nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công, phân cấp của Thủ trưởng đơn vị; sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao của phòng và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện; quản lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài sản được Bộ, đơn vị giao theo quy định. Về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý: có kinh nghiệm chức vụ quản lý Phó Trưởng phòng hoặc tương đương (trường hợp bổ nhiệm tại chỗ). Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tốt nghiệp đại học trở lên; có bằng tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị hoặc tương đương trở lên; đã được bổ nhiệm ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở lên hoặc các chức danh nghề nghiệp tương đương trở lên; có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính trở lên; có chứng chỉ bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trở lên. Tiêu chuẩn chức danh Phó Trưởng phòng: Phó Trưởng phòng là người giúp việc cho Trưởng phòng, được Trưởng phòng phân công phụ trách, chỉ đạo, quản lý một hoặc một số lĩnh vực công việc chuyên môn thuộc nhiệm vụ của phòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công.

Nhiệm vụ: tổ chức thực hiện các công việc chuyên môn, nghiệp vụ theo phân công hoặc ủy quyền của Trưởng phòng; chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các công chức, viên chức, người lao động trong việc thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; tham mưu, đề xuất với Trưởng phòng các chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách và các lĩnh vực khác thuộc phạm vi quản lý của Phòng; báo cáo, đề xuất với Trưởng Phòng phương án xử lý các vấn đề phát sinh, vướng mắc vượt quá thẩm quyền giải quyết trong lĩnh vực được phân công 9 phụ trách; thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng phòng. Về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý: có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được giao (trừ trường hợp nguồn cán bộ từ nơi khác chuyển đến theo chủ trương của cấp có thẩm quyền). Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tốt nghiệp đại học trở lên; có bằng tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị hoặc tương đương trở lên; đã được bổ nhiệm ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở lên hoặc các chức danh nghề nghiệp tương đương trở lên; có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên trở lên; có chứng chỉ bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trở lên. - Đào tạo Đào tạo là khái niệm được xác định là quá trình biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập và rèn luyện.

Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Đào tạo là quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học, hoặc - nói cách khác - là huấn luyện và giáo dục một cách có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như: chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hành chính hay các lĩnh vực khác, nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác. Theo Tự điển Bách khoa Việt Nam 1995, Nhà xuất bản Hà Nội: “Đào tạo là một quá trình tác động đến con người, làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận được sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”. Theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định từng cấp học, bậc học.

Đào tạo còn có thể hiểu là hình thức tác động, hình thành và trang bị cho người học sau khi hoàn thành việc học có một trình độ mới cao hơn trình độ cũ đã có trước đó, người học sau khi được đào tạo sẽ được nâng từ trình độ thấp hơn lên 10 trình độ cao hơn và được chứng nhận bằng một văn bằng tương ứng hay đào tạo là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp công chức có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ vị trí việc làm của mình. Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một cách có hệ thống để người công chức thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó, “đào tạo là các hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ